no

Chiếc Thuyền Ngoài Xa tổng hợp bài văn tóm tắt phân tích hay nhất

Chiếc thuyền ngoài xa của ✅Nguyễn Minh Châu được tóm tắt, phân tích giúp cảm nhận sâu sắc hơn về tác phẩm, thêm ý tưởng mới viết văn.

Dàn ý bài văn chiếc thuyền ngoài xa

Mở bài

  • Nguyễn Minh Châu là 1 trong số những nhà thơ, nhà văn lớn mở đường lối viết tài hoa, tinh anh nhất. Ông ko ngừng trằn trọc về số phận quần chúng. Và trách nhiệm của nhà văn, luôn thiết tha tìm kiếm những hạt ngọc ẩn giấu nơi bề sâu tâm hồn.
  • Chiếc thuyền ngoài xa được cho ra mắt in trong tập “Bến quê”, tác phẩm đã đem đến cho mọi người cái nhìn đúng đắn về cuộc sống cũng như về con người.

Thân bài

Phát hiện đầy sâu sắc của người nghệ sĩ Phùng nhiếp ảnh

Phát hiện “cảnh đắt trời cho”

Phùng là người đam mê nghệ thuật trong một thoáng nhìn anh đã phát hiện ra cảnh đắt trời cho để chớp lấy.

canh-dat-troi-cho-tu-chiec-thuyen-ngoai-xa
  • Nhận xét về 1 bức tranh được vẻ bằng mực tàu của danh họa nổi tiếng thời cổ, một vẻ đẹp thuần tuý và toàn bích. Đây là cảnh tượng diệu huyền của thiên nhiên, cuộc sống khi nhìn từ xa.
  • Phùng bối rối trước cái đẹp: “trong trái tim như có thứ gì bóp thắt vào”, nhìn thấy rằng “bản thân cái đẹp chính là đạo đức”. Ấy là niềm hạnh phúc của người nghệ sĩ khi bắt gặp cái đẹp, anh trông thấy vai trò đích thực của nghệ thuật.
Phát hiện ra 1 bức tranh về cuộc sống đầy bi kịch nghịch lí

Từ mẫu thuyền nhỏ đẹp đẽ vừa rồi, Phùng nhận thấy:

  • Người phụ nữ thô kệch xấu xí, mặt đầy sự mệt mỏi bước ra và một lão chồng có tấm lưng rộng, mái tóc tổ quạ, đôi mắt độc dữ cùng bước ra từ con thuyền.
  • Lão chồng “dùng chiếc dây lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà”, “vừa đánh vừa nguyền rủa bằng giọng rên rẩm đau đớn”.
  • Trong khi đấy, người phụ nữ chỉ cam chịu, ko kêu van, hay chống trả, chạy trốn.

Thái độ của Phùng: “kinh ngạc tới mức trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há mồm ra mà nhìn”. Phùng ngỡ ngàng bàng hoàng nhận ra rằng thực chất của cái đẹp mà anh vừa mới bắt gặp.

Nhận xét: đừng nhầm lẫn giữa hiện tượng bên ngoài và bản chất bên trong.

Câu chuyện của người nữ giới hàng chài ở tòa án quận

Khi chánh án Đẩu đề nghị chị nên li hôn, chị ta van nài “con lạy quý tòa …đừng bắt con bỏ nó”, theo chị:

  • Người đàn ông thực chất vốn ko phải kẻ vũ phu, hiểm sâu, anh ta chỉ là nạn nhân của cuộc sống đói khổ. Người chồng là chỗ dựa khi biển động.
  • Chị không thể 1 mình nuôi nấng trên dưới 10 đứa con, vả lại “trên thuyền cũng với lúc vợ chồng con cái vui vẻ, hòa thuận”.

Qua câu chuyện và thái độ của người nữ giới, nhận thấy người phụ nữ là hiện thân cho kiếp người xấu số bị đói khổ, cái ác và số phận đen đủi dồn đến chân tường. Nhưng ở chị ta lại có 1 tâm hồn vị tha, tình thương tha thiết và là người trải đời, sâu sắc.

Thái độ của chánh án Đẩu và nhiếp ảnh Phùng khi người phụ nữ quyết ko bỏ chồng:

  • Cả hai người đều cảm thấy rất giận dữ, bất bình về ý kiến này.
  • Nhưng sau khi nghe tâm tình của người phụ nữ anh ta thấy như có “một thứ gì vừa mới vỡ lẽ ra”.

Nhận xét: ban đầu, họ quen nhìn đời bằng con mắt đơn giản một chiều (nghĩ đơn thuần rằng các kẻ đi theo ngụy là xấu “lão ta hồi 75 có đi quân nhân ngụy không?”), chỉ biết qua lí thuyết sách vở, ko sẵn sàng đối mặt nghịch lí thế cục.

Bài học rút ra: phải có cái nhìn đa diện về cuộc sống, không nhìn hiện tượng phân tích thực chất.

Tấm ảnh được chọn

Nghệ sĩ Phùng vẫn có tấm ảnh ấy về tòa soạn, quả nhiên ảnh đã được chọn, được treo phổ biến nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật:

Phùng vẫn luôn nhận thấy trong bức ảnh của mình:

“cái màu hồng hồng của sương mai” (biểu tượng cho nghệ thuật) và người phụ nữ nghèo khổ bước ra trong bức tranh (hiện thân cho đời thực).

Nhận xét: nghệ thuật chân chính ko bao giờ tách rời khỏi cuộc sống.

Kết bài

  • Nêu lên cảm nhận mang chất riêng đặc sắc về tác phẩm.
  • Giá trị nghệ thuật: xây dựng tình huống truyện đặc sắc, cốt truyện hấp dẫn. Khắc họa nhân vật sắc sảo, điểm nhìn tường thuật cởi mở,…
  • Tác phẩm đã đem lại bài học về bí quyết nhìn cuộc sống và con người: phải nhìn đa diện, nhiều chiều, phát hiện thực chất đằng sau vẻ ngoại hình của hiện tượng.

Chiếc thuyền ngoài xa được phân tích hay với bài mẫu 1

Nguyễn Minh Châu sinh năm 1930, mất năm 1989 là nhà văn thuộc quân đội. Ông là một trong các cây bút tiên phong của nền văn học Việt Nam thời gian đổi mới (cuối thế kỉ XX). Các tập truyện ngắn: “Người đàn bà trên chuyến tốc hành”, “Bến quê”, “Chiếc thuyền ngoài xa”, “Cỏ lau”,… Đã biểu thị tuấn kiệt nghệ thuật đặc sắc, in đậm cá tính tự sự – học thuyết của Nguyễn Minh Châu.

nha-van-nguyen-minh-chau

Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa được Nguyễn Minh Châu viết ra vào những năm 1983, xuất bản cho ra mắt vào năm 1987. Người nghệ sĩ là nghề nhiếp ảnh tên Phùng, chánh án tên Đẩu, người đàn bà sống với thuyền chài có khuôn mặt rỗ nhiều và thằng bé tên Phác là những nhân vật trong truyện được tác giả Nguyễn Minh Châu khắc hoạ rất sắc sảo, để lại cho người đọc bao ấn tượng, sợ hãi về màu sắc lãng mạn của nghệ thuật và sự thực trần truồng của đời thường.

Nghệ sĩ Phùng đã “vác” máy ảnh trở lại vùng biến nơi trận mạc cũ của anh thời đánh Mĩ. Cảnh biển buổi sáng sở hữu sương mù mà anh “phục kích” mấy buổi sáng vẫn chưa tìm ra. Anh phấn khởi muốn thu vào tờ lịch tháng bảy năm sau cảnh thuyền đánh cá thu lưới vào lúc bình minh thì sáng nay anh đã gặp “hên” một cảnh “trời cho”, có lẽ suốt một đời cầm máy chưa bao giờ dám mơ màng đến. Đấy là cảnh “thuyền in 1 nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù màu trắng như sữa có pha tí chút màu hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Và bóng người lớn lẫn trẻ em ngồi lặng phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ. Phần nhiều khung cảnh đó nhìn qua các mắt lưới và tấm lưới nằm giữa 2 cái gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh 1 con dơi…”.

Trong ánh mắt của người nghệ sĩ, Phùng cảm thấy trước mặt mình là “một bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ”. Bao mĩ cảm đã dâng lên dào dạt trong lòng, anh xúc động “bối rối”, và trái tim của anh “như mang thứ gì bóp thắt vào”. Đối diện bức tranh “thật đẹp và toàn bích” đấy, nghệ sĩ Phùng cảm thấy vô cùng hạnh phúc, anh mới nhằm nhè “bản thân trong cái đẹp chính là đạo đức” như người nào ấy lần đầu đã phát hiện ra; trong giây phút bối rối đó, anh ” vừa khám phá thấy giây phút trong ngần của tâm hồn”. Cái đẹp cùng với nghệ thuật đã làm thanh lọc tâm hồn con người, khiến hồn người sâu lắng trở nên thánh thiện.

Và khi đã chạm đến gấu áo của vị thần nghệ thuật, Phùng đã bấm “liên thanh” một hồi hết một phần tư cuộn phim, thu vào cái Pra-ti-ca. dòng giây phút đó đối mang anh là hết sức hạnh phúc, và anh đã “ngộ” ra – “hạnh phúc tràn đầy tâm hồn mình do cái đẹp tột đỉnh của ngoại cảnh vừa sở hữu lại”.

1 điều mà bạn đọc cần lưu ý, đấy là nơi nhà nhiếp ảnh ngồi bấm máy. Không phải Lầu Hoàng Hạc, chẳng phải là một chốn Bồng Lai mà chí là một bãi biển còn đầy tàn tích chiến tranh bao xác xe tăng, xe rà phá mìn của công binh Mỹ thua chạy bỏ lại. Phùng ngồi bấm máy phải “rúc vào bên bánh xích của 1 loại xe tăng để tránh mưa”. Chi tiết này rất quan trọng, nó cho thấy cảnh biển mù sương và con thuyền trong rạng đông tuy đẹp, nhưng chiếc đẹp đó chưa trọn vẹn. Vết thương chiến tranh còn in hằn trên bãi biển và trong lòng ngư gia. Chỉ vì Phùng, với tâm hồn lãng mạn của người nghệ sĩ, anh mới thi vị hóa, thần tiên hoá hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa, để rồi sau đấy, anh sẽ bị hẫng.

Một cảnh đầy thảm kịch đã xảy ra. Một cảnh đời trớ trêu, quá phũ phàng và vô cùng tàn tệ đã diễn ra khi cái thuyền “đâm thẳng” vào bờ, vào ngay trước chỗ nhà nhiếp ảnh đứng. Phùng không chỉ nhận ra, được chứng kiến mà còn được tham gia vào những chuyện oái oăm, đau lòng.

Còn đâu nữa màu trắng, màu hồng của bức tranh “toàn bích” khi một người đàn ông và một người đàn bà rời thuyền lội qua 1 quãng bờ đi lên bãi cát. 1 ngôn ngữ chõ như quát cất lên: “Cứ ngồi nguyên ấy, nhúc nhích tao giết mày bây giờ”. Người phụ nữ ngoài bốn mươi tuổi, cao to, thô kệch, rỗ mặt, mệt mỏi, tái ngắt… Người đàn ông đi sau “lưng rộng và cong như lưng 1 dòng thuyền, mái tóc tổ quạ, chân chữ bát, lông mày cháy nắng, rủ xuống”,… Lão đàn ông con mắt đầy vẻ độc dữ khi nào cũng nhìn dán vào tấm lưng áo bạc phếch và rách rưới, nửa thân ướt đầm của người đàn bà”.

Mọi chuyện xảy ra với Bãi cát, nơi xác cái xe rà phá mìn đã phát triển thành nơi hành hạ. Khi người đàn bà “đứng lại, ngẩng mắt nhìn ra bề ngoài chỗ cái thuyền đậu một thoáng” (có thể người mẹ nhìn mấy đứa con) thì một sự việc diễn ra khủng khiếp! Lão đàn ông “trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay”, hắn lồng lên như 1 con thú dữ. Lão rút trong người ra 1 dây lưng của bộ đội ngụy ngày xưa, chiếc vũ khí thông thường của kẻ mất hết cả nhân tính, “quật tới tấp vào lưng người đàn bà”. Hắn “vừa đánh vừa thở hồng hộc, 2 hàm răng nghiến ken két”. Lão “trút cơn giận như lửa cháy” vào người nữ giới khổ thân, đáng thương. Lão nguyền rủa bằng giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết đi cho ông nhờ!”. Mày với chúng mày mà lão chống nói tới đó chính là vợ và các con của lão.

Thật kì lạ là người nữ giới khổ nạn đấy không kêu 1 tiếng, không chống trả, ko trốn chạy mà “cam chịu đầy nhẫn nhục”. Hình ảnh đau lòng ấy đã khiến cho nhà nghệ sĩ nhiếp ảnh “kinh ngạc”, “đứng há mồm ra mà nhìn” trong mấy phút. Lúc Phùng vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy nhào đến thì một thằng bé con bức xúc “như 1 viên đạn lao đến đích đã nhắm” lao thẳng vào cái lão đàn ông. Đứa bé có 1 sức mạnh ghê gớm đã giằng được dây lưng, vung chiếc khoá sắt quật vào giữa ngực trần vạm vỡ cháy nắng với những đám lông đen loăn xoăn của lão đàn ông. Giằng ko được dây lưng da, lão ta dang mạnh tay cho thằng bé 2 tát khiến thằng bé ngã dúi xuống cát.

Tiếng gọi: “Phác, con ơi!” của người mẹ khổ thân đựng lên. Hình ảnh người phụ nữ “ôm chầm lấy thằng bé, rồi lại buông ra, chắp tay vái lấy vái để rồi ấp ôm chầm lấy… Cùng với đó hình ảnh thằng bé lặng lẽ đưa bàn tay khẽ sờ lên khuôn mặt của người mẹ để lau đi các giọt nước mắt đau khổ lấp đầy trong các nốt rỗ nhăn nhít, phần nhiều đã làm cho nhà nhiếp ảnh Phùng, cho mỗi chúng ta tê tái bàng hoàng. Đứa con tới để cứu mẹ, để chặn bàn tay của con người thú.

Phùng “ngơ ngác nhìn” ra bờ phá khi người nữ giới buông đứa con ra, đi thật nhanh đuổi theo lão đàn ông vừa đánh mụ, rồi cả 2 cùng đi về thuyền. Bãi cát hoang vu mà minh mông, tiếng sóng kêu ồ ồ đựng lên, Bức ảnh sự thế ấy diễn ra “như trong truyện cổ quái đản”, thuyền vó đã biến mất, chắc đã khiến cho cách nghĩ, tầm nhìn và giác quan nghệ thuật của nghệ sĩ Phùng thay đổi? Bức ảnh thế sự trần truồng ấy đã được Nguyễn Minh Châu kí hoạ, đã được nhà nhiếp ảnh Phùng mục kích và bấm máy thật giàu ý nghĩa. Nghệ thuật hướng về cái đẹp, nhưng chẳng thể là sự lừa dối. Lãng mạn hoá cuộc thế, bối hồng tô son hiện thực cuộc đời là vô nghĩa lúc thế cục còn mồ hôi và nước mắt!

Phùng có thể coi đây là 1 chuyến đi nhiều ý nghĩa: chiếc thuyền nghệ thuật thì ở ngoài xa, ẩn hiện trong sương mù, còn sự thực thế cuộc thì lại trần truồng, ờ rất gần ngay trước mắt. Qua đấy, ta càng thấy rõ chân lí cuộc thế, với nơi chẳng phải là chân lí nghệ thuật. Nguyễn Minh Châu qua “Chiếc thuyền ngoài xa” đã nêu lên bài học về cái nhìn đa diện, dòng nhìn khám phá tinh khiết tạo nghệ thuật đối với nhà nghệ sĩ chân chính giàu bản lĩnh.

Câu chuyện người phụ nữ làng chài ở trụ sở toà án thị xã đã lí giải cho Phùng và Đẩu, đã giúp chúng ta hiểu rõ sự thật trần trụi trước mọi bi kịch bạo hành trong gia đình, hiểu sâu hơn tấm lòng và tâm lí của người đàn bà trong nỗi oái oăm cuộc đời.

Người phụ nữ mặt rỗ lúc đầu chỉ dám ngồi ở góc tường, lúc được Đẩu mời, mụ mới “rón rén” tới ngồi vào mép ghế và cố thu người lại. Khi nghe vị Chánh án đề cập, mụ ngước lên nhìn rồi lại “cúi mặt xuống”. Có lẽ lần đầu đến cơ quan nhà nước, mụ mới sợ như vậy. Mụ ta chắp tay vái lia vái lịa chánh án Đẩu: ‘Con lạy quý tòa, lạy quý tòa…’. Mụ nhấp nhỏm xoay mình như bị kiến đốt! Nghe mụ van nài mà xót xa: “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…”. Sống 1 kẻ vũ phu, “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày càng trận nặng” vậy mà mụ vẫn van vỉ quý tòa “đừng bắt con bỏ nó”. Chánh án Đẩu làm sao hiểu được nỗi oái oăm đó. Nhà nhiếp ảnh Phùng thì cảm thấy “ngột ngạt quá!”.

Khi nghe vị chánh án gọi bằng bà, và nhắc rõ chủ trương của toà án là kêu gọi hoà thuận, chị ta “ngơ ngác” nhìn Đẩu, nhìn Phùng, chị ta thay đổi xưng hô, tự xưng là chị, gọi Đẩu và Phùng là chú rất tha thiết, rất thành tâm.

Mụ đề cập về thời con gái của mình, mụ tâm sự về chuyện lấy chồng của mình: mặt rỗ, xấu gái, không ai lấy, rồi có được anh con trai… “Lão chồng tôi khi ấy là 1 anh con trai cục tính nhưng nhân từ lắm, ko bao giờ đánh đập tôi”.

Mụ nói chuyện từ ngày cách mệnh về đỡ khổ, chứ trước đày các lần động biển, vợ chồng con loại toàn ăn xương rồng luộc chấm muối suốt hàng tháng trời. Chị ta than thở gia đạo nghèo, thuyền quá nhỏ… Nữ giới ở thuyền đẻ nhiều quá; đàn ông ở thuyền hoặc uống rượu hoặc đánh vợ, bất cứ lúc nào, hễ thấy khổ quá là xách vợ ra đánh. Chị ta cho biết nỗi nặng nhọc của người nữ giới trên một chiếc thuyền ko có đàn ông, nhất là các khi biển động sóng gió để chèo chống. “Ông trời sinh ra đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi lớn khôn, thành ra phải gánh lấy cái khổ. Nữ giới ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ chẳng thể sống cho mình như ở đất được…”. Chị cho biết chồng chị ngày trước cũng trốn đi quân nhân ngụy. Chị cũng lấy niềm vui là khi vợ chồng con “sống hoà thuận vui vẻ”, “vui nhất là ngồi nhìn đàn con được ăn no “,v.v…

Sự nhẫn nhục, đức hi sinh của người phụ nữ mặt rỗ thật minh mông. Chị ta đầy vẻ cam chịu khi bị lão chồng hành hạ, đánh đập. Chị ta chỉ xin 1 điều đó là chồng đừng đánh đập mình trước mặt các con. Chị ta sợ đứa con trai tên là Phác làm điều gì dại dột đối với bố nó nên phải gửi nó lên rừng ở cùng ông ngoại. Chị ta đã khóc lúc nghe Phùng nói đến tên thằng Phác.

Chỉ qua các lời thanh minh chân thật đó, ta mới hiểu được nỗi khổ, sự cam chịu nhẫn nhục, đức hi sinh lặng lẽ, tình thương con bao la của người đàn bà làng chài đáng thương; ta mới thấu hiểu được căn nguyên sâu xa của tệ nạn bạo lực trong các gia đình nghèo. Nếu như hiểu sự việc 1 cách thuần tuý, chỉ kí quyết định bắt người phụ nữ mặt rỗ bỏ chồng là xong. Nhưng ví như nhìn chuyện đời thấu suốt, rất nhân tính, rất đời, thì ta sẽ thấy cách nghĩ, cách sống, cách thức ứng xử của người vợ, người mẹ ở trong truyện là không thể khác được.

Biết được lòng người xấu, tốt, biết được nỗi lòng, nỗi đời, tình cảnh của con người đâu dễ! Qua câu chuyện người đàn bà ở toà án huyện, ta càng thấy rõ: không thể thuần tuý, dễ dãi khi nhìn người, nhìn đời, lúc tìm hiểu hiện tượng trong xã hội, trong cuộc sống. Chẳng thể vội vã vội vàng. Nếu thiên kiến, thành kiến, duy ý chí là sai. Mang lòng tốt, ý định tốt chưa đủ. Mà phải suy xét, cân nhắc vừa có tình vừa có lí, vừa được việc vừa được người.

Truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” sở hữu tình huống rất tự nhiên hấp dẫn. Mỗi một cảnh huống xuất hiện, tính kịch của câu chuyện lại được nâng cao, được khắc sâu. Người nhiếp ảnh gia Phùng lúc đầu chỉ phát hiện ra hình ảnh chiếc thuyền chài ngoài xa hiện ra trong cảnh sương mù và đã bấm máy ảnh liên hồi hết 1/4 cuộn phim và ngất ngây trước cái đẹp của ngoại cảnh là 1 cảnh huống thơ mộng. Chuyện người đàn ông chân chữ bát dùng dây thắt lưng quân nhân ngụy đánh mụ vợ mặt rỗ và thằng Phác đánh lại bố hắn để bảo vệ người mẹ thương yêu là 1 tình huống tự nhiên diễn ra trước mắt Phùng khiến tính thảm kịch đầy nước mắt. Chuyện lão chồng thuyền chài lại đánh đập vợ, đánh bị thương nhiếp ảnh Phùng (kẻ dám can ngăn sự việc này), chuyện chị gái cướp lấy con dao mà thằng em trai định dùng làm vũ khí để bảo vệ người mẹ khổ thân, đều là tình huống cực kì cay đắng, dữ dội. Câu chuyện của người đàn bà mặt rỗ nói ở cơ quan toà án huyện… Là tình huống nói về sự ngang trái của cuộc thế, về thân phận tủi nhục đắng cay của người phụ nữ nghèo, đông con ở làng chài.

Qua các tình huống ấy, nhà nghệ sĩ Phùng mới thấm thía rằng: nghệ thuật không thể lãng mạn hoá, thi vị hoá cuộc thế khi cuộc đời còn đầy éo le. Chánh án Đẩu mới thấu hiểu toà án không chỉ để thực thi công lí, luật pháp mà còn phải soi sáng lòng dân, tình dân. Và mỗi chúng ta mới hiểu: cuộc sống đã và đang diễn ra là phức tạp, chẳng thể thuần tuý hoặc chỉ nhìn một chiều, một phía, một cạnh.

Tính cảnh đã làm cho truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” vừa chân thực, vừa sở hữu giá trị nhân văn sâu sắc. Phải chăng thế cuộc lam lũ nghèo khổ, tinh quái, sự bất minh ngu dốt… Là một trong những căn nguyên gây ra nạn bạo lực đối với phụ nữ và con trẻ trong 1 số gia đình Việt Nam lâu nay? Nguyễn Minh Châu đã kín đáo đề cập về một cội nguồn đầy nước mắt mà thi hào Nguyễn Du đã viết trong “Văn chiêu hồn” hơn hai thế kỉ trước:

‘Đau đớn thay phận phụ nữ,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu’.

Chiếc thuyền ngoài xa được phân tích hay với bài mẫu 2

Nguyễn Minh Châu: “Là một trong số các nhà văn mở đường tinh anh và tuấn kiệt nhất của văn học”. Trước cách mạng sáng tác của ông thiên về xu hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, sau cách mệnh bằng sự tìm tòi, đổi mới, ngòi bút của ông hướng hẳn vào những trắc trở thế sự, đời tư, đi sâu vào cuộc sống của con người. Chiếc thuyền ngoài xa đã khai thác rất sâu sắc về số phận về thân phận của con người trong cuộc sống đời thường. Tác phẩm mang đặc thù cá tính sáng tác của ông sau cách mệnh.

Ra mắt tác phẩm là một khung cảnh tuyệt mĩ, là cảnh đắt trời cho chiếc thuyền mơ mộng, yên bình trong quang cảnh bầu trời sương lãng đãng, lại pha chút hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Đấy là vài bóng người lớn lẫn con nhỏ ngồi yên như tượng trên cái mui khum khum đang hướng mặt vào bờ. Quả thực đây là bức họa diệu huyền, mĩ lệ mà tạo hóa đã tặng thưởng cho con người. Khung cảnh này là quang cảnh mà bất cứ người nghệ sĩ nào cũng mong muốn bắt gặp 1 lần trong đời làm nghệ thuật của mình. Trước quang cảnh đấy, sao người nghệ sĩ có thể không rung động, Phùng cảm thấy tâm hồn mình được thanh lọc, gột rửa và 1 niềm hạnh phúc trào dâng trong lòng. Phùng vừa mới hoàn thành được nhiệm vụ mà sếp giao phó, nhưng hơn cả vậy chính là Phùng đã tìm thấy được 1 tuyệt tác của nghệ thuật.

Nhưng đằng sau bức tranh tuyệt đẹp đấy là sự thực đau lòng tới đáng ngạc nhiên. Hiện thực trần trụi mở ra trước mắt Phùng, người phụ nữ xấu xí, mặt rỗ, đi sau là người đàn ông cao lớn, dữ dằn, tấm lưng rộng và cong như lưng của một cái thuyền… Thế ra đằng sau cái đẹp tuyệt mĩ mà Phùng vừa mới phát hiện lại là khung cảnh khôn cùng tàn tệ, nơi mà bạo lực gia đình diễn ra hết sức kinh khủng. Người nữ giới cam chịu, nhẫn nhục lẳng yên ổn đi trước, còn người đàn ông đi phía sau, ko kể một lời, nhưng phát triển thành hùng hổ, mày mặt đỏ gay dùng ngay loại thắt lưng vụt tới tấp vào người vợ. Trước khung cảnh đấy người nghệ sĩ Phùng“kinh ngạc đến thẫn thờ”, “mấy phút đầu cứ đứng há miệng ra mà nhìn”, “chết lặng”… Khung cảnh ấy đã cho nghệ sĩ Phùng nhận thức đa số và trung thực hơn về cuộc sống: cuộc sống vốn không đơn giản, xuôi chiều mà chứa phần nhiều nghịch lí, trong cuộc sống luôn còn đó cả xấu – tốt, đúng – sai, rồng phượng, rắn rết. Do đó, khi nhìn nhận bất cứ vấn đề nào cũng phải nhìn sâu, nhìn kĩ, đừng hấp tấp phân tích sự vật hiện tượng qua vẻ ngoại hình của nó.

Nếu như đầu tác phẩm người đàn bà hàng chài mới chỉ hiện lên ở các nét vẽ hết sức sơ xài, thì trong cuộc gặp gỡ ở tòa án huyện chân dung và căn số của chị đã được mô tả rõ nét hơn. Người phụ nữ hàng chài xuất hiện tại tòa án thị xã là do anh đã vào can ngăn người chồng đánh lại chị. Bên cạnh đó anh đã bị thương, sau lần đó, anh quyết định nhờ đến sự can thiệp của Đẩu – người đại diện cho công lí, pháp luật để trợ giúp người phụ nữ khốn khổ này.

Người phụ nữ trạc ngoài bốn mươi tuổi, thân hình thô kệch, cao lớn, khuôn mặt xấu xí, lại bị rỗ mặt do 1 trận ốm. Người phụ nữ xuất hiện trong phong thái sợ sệt, lúng túng, vì vốn quen với môi trường sông nước, lạ lẫm khi bước vào căn phòng toàn bàn ghế, giấy tờ…. Chị ngồi thu mình ở mép ghế, lo lắng, khiếp sợ. Chị sợ sự xuất hiện của mình gây phiền hà, vướng víu cho người khác. Trên bộ mặt chị ko trình bày bất cứ điều gì, bình yên và bằng lặng, ta ko nhận định có lẽ sẽ ko bao giờ biết hết được về người nữ giới này.

Thật nhẹ nhõm và bình thản chị đề cập về câu chuyện cuộc thế mình. Chị vốn được sinh ra trong một gia đình khá giả ở phố buôn bán những trang bị phục vụ nghề chài lưới nhưng lại không được ưu ái về nhan sắc, sau một trận đậu mùa mặt bị rỗ chằng chịt. Chị đã gặp gỡ và bén duyên cùng người chồng hiện tại của mình. Cuộc sống gia đình bắt đầu rơi vào bi kịch lúc họ sinh nhiều con, cuộc sống trên thuyền chật chội, cập kênh, họ rơi vào cảnh cùng túng, quẫn bách. Anh chồng vốn nhân từ trở thành cục súc, dữ dằn, thường lôi chị ra đánh. Chị vợ chính là hiện thân, là nạn nhân của bạo lực gia đình.

Nhưng đằng sau vẻ ngoài xấu xí ấy, còn là 1 người sở hữu nội tâm sâu sắc, một tâm hồn đẹp, hiền từ. Trước tiên người đàn bà hàng chài là một người thấu hiểu sâu sắc lẽ đời. Chị ko muốn bỏ chồng vì thứ nhất chị làm nghề hàng chài, trên 1 chiếc thuyền của gia đình thì không thể thiếu vai trò của người đàn ông, nhất là khi biển động. Thứ hai 1 mình chị không thể gồng gánh nặng mưu sinh cho chín mười người con. Đối với chị, hạnh phúc lớn nhất đó là khi được nhìn đàn con ăn no. Thứ ba, cũng đôi khi trên thuyền vợ chồng chị cùng con quây quần, hạnh phúc, dù ít oi nhưng nó cũng phần nào trâm dịu nỗi đau về thân xác sau mỗi lần bị chồng đánh.

Không chỉ vậy, chị còn là người có tấm lòng đôn hậu, bao dung. Hầu hết mọi người đều đề xuất biện pháp từ khước, tẩy chay gã đàn ông, riêng chị thì không. Chị sẵn sàng đứng yên chịu trận, ko chống trả, không bỏ chạy. Rất thấu hiểu, thông cảm cho người chồng. Và đẹp đẽ nhất chính là đức hi sinh, ái tình thương con sâu sắc. Chị sẵn sàng chịu những trận đòi roi của chồng để đàn con được ăn no, ngủ yên. Lo thằng Phác sẽ mang các hành động sai lầm, chị gửi nó lên ở cùng ông ngoại, để nó ko trông thấy bố đánh mẹ, để nó khỏi đau lòng và ko có các hành động trái luân thường đạo lí. Đối với chị niềm vui, niềm hạnh phúc rất đơn thuần, là khi gia đình hòa thuận, lúc nhận ra lũ trẻ được ăn no. Chị yêu con, thương con, mong con khôn lớn nhưng chẳng thể bảo vệ được tâm hồn của những đứa con. Người nữ giới hàng chài hiện ra là hình ảnh đại diện cho các con người vô danh, nghèo khổ, lam lũ nhưng với vẻ đẹp tâm hồn đáng quý làm cho họ trở nên không phải nhỏ bé mà là hiện thân của cái đẹp đẽ nhất.

Kế bên người phụ nữ hàng chài, ta cũng không thể ko nói tới Phùng, 1 người nghệ sĩ tài ba, nhạy cảm trước cái đẹp. Khi phát hiện ra cảnh đắt trời cho, trong lòng anh cảm xúc trào dâng: rung động, tâm hồn được thanh lọc, hạnh phúc chứa chan tâm hồn, lôi máy ảnh ra bấm liên thanh…

Ko chỉ vậy anh còn là người có nghĩa vụ, với tấm lòng có cuộc sống và con người. Khi chứng kiến cảnh bạo hành, anh sẵn sàng vứt máy ảnh xuống để trợ giúp người nữ giới khổ thân. Lần thứ hai can thiệp anh đã bị thương và vì vẫn còn lo lắng cho người nữ giới kia anh đã nhờ đến sự trợ giúp của chánh tòa án huyện. Tuy nhiên, anh còn là người nghệ sĩ luôn trằn trọc mang thiên chức nghề nghiệp của mình. Anh phát hiện ra cái đẹp tuyệt mĩ, nhưng đằng sau cái đẹp lại là cái xấu, là hiện thực trần truồng. Chiếc thuyền ngoài xa chính là hình ảnh cuộc đời khi nhìn ở xa, lúc quan sát với cái nhìn hời hợt. Do vậy, cần nhìn nhận con người, sự việc thấu đáo, toàn diện. Cùng với đó là bức tranh xuất hiện cuối tác phẩm, mang đến cho người nghệ sĩ Phùng 1 chiêm nghiệm khác chính là nghệ thuật phải gắn liền với cuộc sống, không được xa cách cuộc sống và phải quay trở về để đáp ứng cuộc sống.

Sự cách tân đổi mới trên cả hai bình diện nội dung và nghệ thuật Nguyễn Minh Châu đã tạo nên tác phẩm xuất sắc. Ko lấy các người hùng làm nhân vật trọng điểm mà đi sâu tìm tòi, phát hiện vẻ đẹp ở các con người thông thường. Tác phẩm được đúc kết rất thấu đáo về nghệ thuật lẫn con người: đối với con người, phải nhìn nhận đa chiều, đa diện, không nên Phân tích phiến diện, một chiều; về nghệ thuật: nghệ thuật chân chính phải gắn liền với cuộc thế, lên đường từ thế cuộc và quay trở lại phục vụ cho cuộc đời.

Chiếc thuyền ngoài xa được phân tích hay với bài mẫu 3

Nguyễn Minh Châu là 1 trong các cây văn viết văn xuôi giàu chất thơ và sâu chất triết lý. Trong ấy, “chiếc thuyền ngoài xa” là 1 trong các sáng tác có hơi hám nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu mà qua đấy ông còn trình bày được phổ biến triết lý, ý nghĩa qua các hình ảnh nhỏ.

“Chiếc thuyền ngoài xa” là một tác phẩm sở hữu cảnh huống truyện rất độc đáo. Nó được biểu thị qua các phát hiện trung thực của nhân vật Phùng. Cảnh huống truyện đầy bất ngờ và chứa câu chuyện mà qua đó tạo bước ngoặt trong nhận thức của nhân vật về nghệ thuật và cuộc sống.

Phát hiện trước hết dưới con mắt của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng là một bức tranh hoàn mĩ. Sau 1 tuần nhẫn nại phục kích làm việc nhưng Phùng vẫn chưa chụp được một bức ảnh ưng ý thì trong một buổi sáng sương mù, loáng thoáng mấy hạt mưa Phùng đã có cơ hội ghi lại những cảnh đẹp trùng hợp trung thực. Đấy là hình ảnh 1 chiếc thuyền lưới vó, đấy là bầu sương mù trắng như sữa và có vài bóng người…Những hình ảnh hiện lên cực kỳ đơn giản và bình dị. Qua ấy thấy được sự tài tình của ngòi bút Nguyễn Minh Châu trong việc tả cảnh cùng sở hữu việc sử dụng nghệ thuật so sánh đầy tài giỏi, từ láy sở hữu trị giá gợi hình rất cao giúp nhà văn chạm khắc được 1 bức tranh bằng ngôn ngữ tuyệt mĩ, trung thực và sinh động. Ngòi bút Nguyễn Minh Châu còn đang tranh tài cùng tạo hóa để rồi ngoại cảnh kia hóa thân trong những trang văn rất đẹp của Nguyễn Minh Châu. Đây cũng là niềm vui, sự hứng khởi của nhân vật phùng sau những ngày ròng chưa tìm được những chi tiết đắt giá, bức ảnh mà mình chấp nhận. Có nhẽ vì thế mà khiến cho anh bấm máy liên tiếp để ghi lại phút chốc hạnh phúc, đẹp này của thiên nhiên.

Sau bức tranh thiên hiện đó thì cũng là lúc nhân vật Phùng tiếp diễn phát hiện ra đằng sau nó là một bức tranh cuộc sống đầy nghịch lý. Khi này, nhân vật Phùng đứng cự ly gần hơn nên có thể nhìn rõ được hình ảnh người đàn bà trạc ngoài 40 tuổi, cao lớn, thô kệch, mệt mỏi sau một đêm thức trắng. Còn người đàn ông kia có tấm lưng rộng và cong như 1 chiếc thuyền, chân đi hình chữ bát…Mọi hình ảnh hiện lên không sở hữu tính thẩm mỹ có sự thực trần truồng của cuộc sống bây giờ. Với các hình ảnh này nó đối chọi hoàn toàn ngược lại bức tranh tuyệt bích mà trước ấy nhân vật Phùng đã phát hiện. Đoạn văn trình bày hành động cục cằn mà người đàn ông vừa đánh vừa chửi rủa người phụ nữ. Trái lại, người đàn bà kia không có ý thức kháng cự mà cam chịu và không chống trả. Chưa giới hạn ở đó, tiếp tục hành động tát vào mặt những đứa trẻ. Đây đều là những hình ảnh xấu xí, phi nhân tính, phi đạo đức của cuộc sống và để lại ngỡ ngàng cho nhân vật Phùng. Anh không chỉ kinh ngạc, giận dữ còn tỏ thái độ bất bình, ”vứt máy ảnh xuống đất định ngăn cản”…Nhưng chưa kịp thực hiện thì anh đã bị Phác lao đến ngăn cản. Qua đó, thấy được ở Phùng không chỉ là người nghệ sĩ yêu cái đẹp mà anh còn thể hiện là người dám lên án cái xấu, ngăn chặn cái xấu. Cũng chính các phát hiện đắt giá của nhân vật Phùng qua bức tranh cuộc sống đầy nghịch lý đấy mà Nguyễn Minh Châu cũng diễn tả được thông điệp đó là: Đằng sau cái đẹp chẳng bao giờ cũng là cái thiện, đạo đức mà có cả những xấu xa, bất công. Và để có các phát hiện toàn diện nhất thì người nghệ sĩ phải khám phá về mọi mặt để hiểu và trân trọng những thứ chân thực ở cuộc sống.

Từ các phát hiện đó mà Nguyễn Minh Châu còn hé mở và gieo vào lòng người đọc các nội dung sở hữu tính triết lý hơn qua cảnh người đàn ông bạo hành những đứa trẻ nhỏ. Ấy là 1 vấn đề rất đáng được quan tâm và là chi tiết đắt giá của toàn bài. Vấn nạn về bạo lực gia đình, đâu đó vẫn còn nhen nhóm, len lỏi trong lòng tác giả. Qua tác phẩm, Nguyễn Minh Châu cũng mô tả thông điệp của cuộc sống. Tác giả lên án thói vũ phu, tàn bạo của người đàn ông và ca tụng tình mẫu tử thiên liêng, lên tiếng bảo vệ cuộc sống tương lai cho những đứa trẻ khi phải sống trong cảnh bạo lực.

Phân tích Chiếc thuyền ngoài xa (bài mẫu 4)

Nguyễn Minh Châu là nhà văn điển hình, sở hữu phong cách sáng tác giàu tính biểu tượng trong nền văn học nước nhà. Những tác phẩm của ông luôn làm người đọc phải trăn trở, nghĩ suy. Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” là 1 câu chuyện giàu sức gợi như thế. Hình ảnh người phụ nữ làng chài là hình ảnh để lại trong lòng người ám ảnh, trăn trở về cuộc sống của con người trong thời gian đổi mới.

Chiếc thuyền ngoài xa nhắc về chuyến đi sáng tác của nhiếp ảnh Phùng khi đến có vùng đất biển này. Và từ chuyến đi này, anh đã trông thấy rất nhiều chiều của cuộc sống, nhiều góc đời mà con người vẫn bỏ lỡ. Hình ảnh người đàn bà là hình ảnh khiến anh vừa khó hiểu, vừa băn khoăn, vừa chua xót. Có thể nói người làng chài là hình ảnh biểu tượng cho cuộc sống khó khăn, chịu thiệt thòi của người đàn bà.

Người đàn bà hiện lên trong câu chuyện của nhiếp ảnh Phùng là 1 người đầy nhọc nhằn, lam lũ. Nguyễn Minh Châu mang các nét vẽ tinh tế đã phác họa nên 1 hình ảnh giàu sức gợi “người phụ nữ trạc ngoài 40, một thân hình quen thuộc, cao lớn với những nét thô kệch. Mụ rỗ mặt khuôn mặt mỏi mệt sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt, chừng như đang buồn ngủ”. Một người phụ nữ gây ấn tượng cho người đọc ngay trong những dòng đầu tiên, đầy nhọc nhằn, đầy khổ sở và đầy thương cảm. Người đàn bà đó tiếp diễn khiếp sợ người đọc bằng chi tiết “tấm áo bạc phếch miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng”, đã phần nào gợi lên sự chua xót, cùng cực. Giữa cảnh biển minh mông lại xuất hiện một con người làm cho người khác phải trằn trọc như thế này.

Người nữ giới đó còn đầy vẻ cam chịu và nhẫn nhục lúc người chồng hằn học và nhiếc mắng. Đôi mắt của chị như xuyên sâu vào lòng người đọc, nó sợ hãi cho tới khi gấp trang sách lại. Ánh mắt của chị đầy thương xót, đầy ai oán và cũng đầy tình thương dành cho các đứa con mình.

Dọc theo hành trình đi tìm cái đẹp của nhiếp ảnh Phùng, người phụ nữ đã tô điểm cho vẻ đẹp đó. Một vẻ đẹp đầy sự cạnh tranh, nhọc nhằn và đau khổ. Hành động bạo lực của người chồng làm chị cứ câm im, ko người nào oán một lời.

Và sự cam chịu ấy được lặp lại lúc chị được gọi tới hầu tòa. Mặc dầu “ba ngày càng trận nhẹ, năm ngày càng trận nặng” nhưng người đàn bà đó vẫn “không rỉ răng một lời”. Hình dạng “mụ ngồi ghẹ vào mép ghế và cố thu người lại” càng khiến cho Phùng, cho Đẩu, và cho người đọc 1 nỗi ám ảnh khó quên. Bên cạnh đó chỉ 1 lát, “người nữ giới lại lúng túng và sợ sệt”. Có lẽ cuộc sống của chị quá nặng nề, quá thê lương trong các năm qua.

Tình tiết người đàn bà vái lạy để con trai ko làm điều dại dột với bố, cũng như vái lạy quan tòa càng toát lên vẻ cam chịu, sự nhẫn nại, giàu đức hi sinh “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tầy con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”. Khi đi đến cùng tận của nỗi đau, khi mang một đường giải thoát thì người phụ nữ đấy vẫn lặng lẽ và cam tâm chịu đựng đau khổ? Là vì điều gì? chẳng phải là vì đức hi sinh cao cả của người mẹ dành cho xon đó sao?

Lời tâm sự của người đàn bà về cuộc sống, về người chồng, về các đứa con làm người khác vừa thương xót vừa khâm phục. 1 người nữ giới yêu chồng, thương chồng mặc dù bị chồng bạc đãi. Người nữ giới yêu con, thương con vô điều kiện, không đòi hỏi bất cứ điều gì.

Lúc chị kể tới chi tiết “vui nhất là lúc được ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó đã ăn no” thì có lẽ người đọc ứa nước mắt. Những đứa con là sức mạnh để chị tồn tại, sống sót và kiên cường tới hiện tại. 1 người mẹ thầm lặng hi sinh thế cục mình vì những đứa con, 1 người mẹ đã nhẫn nhục phần nhiều chỉ vì miếng cơm manh áo cho con. 1 người mẹ nghèo, cố chấp nhưng yêu thương con vô bờ bến. Thế cục của chị phổ biến đau thương và nước mắt nhưng lại có biết bao nhiêu phẩm chất cao đẹp, đáng trân trọng.

Chẳng hề tự nhiên tác giả chỉ gọi nhân vật là “người đàn bà”, có nhẽ không hề chỉ một người đàn bà duy nhất, mà có thể chúng ta còn bắt gặp gần như người đàn bà chung tình cảnh ở bất cứ bãi biển xinh đẹp nào. Nguyễn Minh Châu đã vẽ lên một bức chân dung làm người đọc phải suy ngẫm, phải trằn trọc về cuộc sống của rất nhiều người quanh đó chúng ta. Và hình ảnh mà nhiếp ảnh Phùng chụp được cũng như những gì anh nghĩ về người nữ giới này là thuyết giáo, 1 thuyết giáo cho cái nhìn nhận đa chiều về cuộc sống này. Tấm lưng bạc phếch, ướt đẫm của người đàn bà này có lẽ còn sợ hãi tất cả người nữa.

Người đàn bà đó chính là nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, cũng như tác giả đã dùng cái tâm để vẽ lên hình ảnh ấy.

Hình ảnh người phụ nữ làng chài trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” đã gửi gắm nhiều thông điệp đến người đọc về cuộc sống, phẩm chất tốt đẹp của các người đàn bà.

Phân tích Chiếc thuyền ngoài xa (bài mẫu 5)

Nhà văn Nguyễn Minh Châu sinh năm 1930, quê ở thị trấn Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Ông tham gia bộ đội năm 1950, đương đầu ở vùng địch hậu đồng bằng Bắc Bộ rồi vào mặt trận Quảng Trị, Thừa Thiên. Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiêu biểu của văn chương Việt Nam thời chống Mĩ, song song cũng là người mở đường xuất sắc cho công cuộc đổi mới văn học từ sau năm 1975. Ở giai đoạn trước, ông là ngòi bút với thiên hướng lãng mạn, sử thi. Ở thời kì sau, ngòi bút của ông chuyển sang đề tài thế sự, quan tâm đến đời sống của con người trong đời thường mang những trở ngại về đạo đức, về thuyết lí nhân sinh. Tập truyện ngắn những vùng trời khác nhau (1970), tiểu thuyết Dấu chân người bộ đội (1972) sở hữu hình tượng trung tâm là những người bộ đội đang tranh đấu chống quân xâm lăng Mĩ, giải phóng miền Nam, hợp nhất đất nước đã khẳng định hào kiệt và tiếng tăm Nguyễn Minh Châu trong văn học đương đại. Ông cũng là nhà văn tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học với mối quan tâm đặc trưng đến phẩm giá, đạo đức, ý kiến sống của 1 con người trong đời thường. Điều ấy được miêu tả qua các tác phẩm như tiểu thuyết Miền cháy (1977), Lửa từ những ngôi nhà (1977) và các truyện ngắn như Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quế, Khách ở quê ra, Bức tranh. Vào năm 2000, nhà văn Nguyễn Minh Châu được Nhà nước trao tặng Giải thưởng cao quý, danh giá đó là giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật.

Chiếc thuyền ngoài xa sáng tác năm 1983 là truyện ngắn tuyệt vời nhất của ông ở thời gian sau; nội dung nhắc về chuyến đi thực tại của một nghệ sĩ nhiếp ảnh, qua ấy diễn tả cách nhìn của tác giả về hiện thực cuộc sống, 1 cái nhìn thấu hiểu và thấm đẫm tình thương cộng sự băn khoăn, day dứt về thân phận con người. Tác giả cùng gửi gắm trong truyện ngắn này các chiêm nghiệm sâu sắc của mình về nghệ thuật. Nghệ thuật chân chính phải luôn luôn gắn bó với cuộc sống. Người nghệ sĩ chẳng thể nhìn đời 1 cách hời hợt, giản đơn mà cần phải nhìn nhận cuộc sống và con người bằng cái nhìn sáng suốt, lí trí phối hợp với rung động chân thành của trái tim bác ái.

Tác giả Nguyễn Minh Châu đã thể hiện được phẩm chất rất tốt đẹp của người lao động trong công cuộc mưu sinh đầy nhọc nhằn, khó khăn và hành trình kiếm tìm đến bến bờ hạnh phúc. Các “hạt ngọc tâm hồn” ko hiện ra trong lửa đạn chiến tranh, mà lẩn tắt thở giữa đời thường đầy sóng gió.

Nhắc tới nghệ thuật viết truyện ngắn, người ta thường nói đến ba yếu tố: Nhân vật, giọng điệu tường thuật và tình huống truyện. Trong đó, việc thông minh được một cảnh huống truyện độc đáo đóng vai trò chủ chốt, quyết định thành công của tác phẩm. Mang ba loại tình huống phổ biến trong truyện ngắn: cảnh huống hành động, tình huống tâm trạng và tình huống nhận thức. Nếu cảnh huống hành động chính yếu nhằm tới hành động với tính bước ngoặt của nhân vật, cảnh huống tâm cảnh chủ yếu khám phá diễn biến tình cảm, xúc cảm của nhân vật thì tình huống nhận thức chủ yếu giảng nghĩa phút chốc “giác ngộ” chân lí của nhân vật. Chiếc thuyền ngoài xa sở dĩ được phân tích là tác phẩm tuyệt vời bởi tác giả đã vun đắp được 1 cảnh huống truyện cực kỳ độc đáo. Đấy là cảnh huống nhận thức và khám phá về cuộc sống và nghệ thuật của hai nhân vật Đẩu và Phùng.

Tình huống bất thần trong truyện đã thay đổi nhận thức của hai người trước những nghịch lí của cuộc sống. Trong khi tự nhiên với vẻ đẹp toàn bích thì cảnh đời lại ảm đạm, đáng buồn. Người vợ bị chồng hành hạ, bạc đãi, thế nhưng vẫn cam chịu, quyết ko bỏ chồng mà lại còn bênh vực. Người chồng vẫn mang trách nhiệm với gia đình nhưng ngày nào cũng hành hạ vợ.

Đứa con nhỏ bé tên Phác dám đánh bố vì quá thương người mẹ của mình…

Nội dung trên tóm lược như sau:

Phùng là một nghệ sĩ nhiếp ảnh được trưởng phòng giao nhiệm vụ đi chụp một cảnh biển ban mai để bổ sung vào bộ ảnh lịch. Anh về lại vùng ven biển miền Trung, nơi trước đây đã từng tham gia tranh đấu chống Mĩ. Phùng gặp lại Đẩu, người bạn tranh đấu năm xưa giờ là chánh án tòa án huyện và được Đẩu nhiệt thành trợ giúp. May mắn thay, sau mấy buổi sáng nhẫn nại “mai phục”, Phùng đã bắt gặp giây khắc diệu kì của cái Đẹp nghệ thuật: có nhẽ suốt 1 đời cầm máy ảnh chưa bao giờ tôi được thấy 1 cảnh “đất” trời cho như vậy: trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của 1 danh họa thời cổ. Mũi thuyền in 1 nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương loạn sắc trắng như sữa pha chút xíu màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ em ngồi im phăng phắc như tượng trên mui khum khum, đang hưởng mặt vào bờ. Phần lớn khung cảnh đó nhìn qua các cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới 1 hình thù y sì cánh 1 con dơi, hầu hết quang cảnh từ nét đến ánh sáng đều phối hợp và đẹp, 1 vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích làm đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có gì bóp thắt vào.

Đoạn văn trên đẹp như 1 bài thơ. Nguyễn Minh Châu đã dùng ngôn ngữ rất tài tình để vẽ lên bức tranh cảnh biển buổi sáng mờ sương mang đủ đường nét, ánh sáng, sắc màu và cả hình ảnh của con người. Trong màn sương sớm trắng như sữa, phớt chút ánh hồng ấm áp của ban mai, hình ảnh chiếc thuyền từ ngoài xa đang hướng mũi vào bờ đẹp như mơ. Trên mui thuyền, những dáng người ngồi lặng im đầy chất tạo hình. Cận cảnh đó là tấm lưới vó, viễn cảnh là 1 chiếc thuyền thấp thoáng, len lói trong sương mờ. Quang cảnh kết hợp tới độ toàn bích khiến cho trái tim người nghệ sĩ nhiếp ảnh như thắt lại vì cảm giác sung sướng và hạnh phúc. Đó chính là niềm hạnh phúc của sự khám phá và sáng tạo, của sự cảm nhận trước cái Đẹp diệu huyền.

Dường như lúc trông thấy hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa bập bồng giữa trời biển mờ sương, Phùng cảm thấy tâm hồn mình như được thanh lọc, trong trẻo, tinh khôi bởi vẻ đẹp thần diệu của thiên nhiên. Không hề chọn lọc, xê dịch gì, anh nhanh nhẹn gác máy lên bánh xích của xe tăng hồng, bấm máy liên tiếp, thu vào 1 phần tư cuộn phim niềm hạnh phúc tột đỉnh của sự khám phá, thông minh đấy.

Lúc cái cảm giác ngất ngây, thỏa mãn do cảnh đẹp hoàn hảo vừa đem lại cho mình chưa kịp tan đi thì ngay sau đó, Phùng chứng kiến một cảnh tượng đau lòng xảy ra ngay trước mắt: Ngay lúc đó, chiếc thuyền đâm thẳng vào trước chỗ tôi đứng. 1 người đàn ông và 1 người nữ giới rời cái thuyền. Họ bắt đầu lội qua quãng bờ phả nước ngập hơi hơn đầu gối của họ. Bất giác tôi nghe người đàn ông đề cập chõ lên thuyền như quát: “Cứ ngồi nguyên ấy. Động đậy tao làm thịt cả mày đi bây giờ”.

Họ hiện ra ở một khoảng cách rất gần, đủ để Phùng nhận ra từng nét rõ trên khuôn mặt của người phụ nữ và vẻ mặt thâm nho đáng sợ của người đàn ông: Người phụ nữ trạc ngoài bốn mươi, một thân hình quen thuộc của đàn bà lãnh hải, cao to với các đường nét thô kệch. Mụ rõ mặt Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và tuồng như đang buồn ngủ. Người đàn ông đi sau. Tấm lưng khá rộng, cong ví như lưng một chiếc thuyền. Mái tóc tổ quạ. Lão đi chân chữ bát, bước từng bước kiên cố, hàng lông mày cháy nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ khi nào cũng nhìn dán vào tấm lưng áo bạc phếch và rách rưới, nửa thân dưới ướt đầm của người đàn bà… 2 người đi qua trước mặt tôi. Họ đi đến sát bên 1 chiếc xe rà mìn cũ. Người nữ giới đứng lại, ngước mắt nhìn ra ngoại hình phá nước chỗ chiếc thuyền đậu 1 thoáng, rồi đưa 1 cánh tay lên có lẽ định gãi hay chỉnh lại mái tóc nhưng rồi sau đó lại buông thả xuống, đưa cặp mắt buồn nhìn xuống phía dưới chân.

Những gì xảy ra trước mắt khiến cho Phùng không thể mường tưởng nổi. Bãi cát, nơi sở hữu xác chiếc xe rà phá mìn bị hỏng đã phát triển thành nơi hành tội: lúc người đàn bà đứng lại, ngửng mắt nhìn ra ngoài mặt phá chỗ cái thuyền đậu một thoáng thì: Lão đàn ông tức khắc trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của bộ đội ngụy ngày xưa,… quật túi bụi vào lưng người phụ nữ, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại chửi rủa bằng giọng rên rẩm đau đớn: ‘Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ôg nhờ’.

Thật kì lạ là người đàn bà khốn khổ đó không hề kêu rên một tiếng, không chống trả, ko trốn chạy mà nhẫn nhục cam chịu. Cảnh tượng ấy đã làm Phùng kinh ngạc tới mức, trong mấy phút đầu… cứ đứng há mồm ra mà nhìn. Khi anh vứt máy ảnh xuống đất chạy nhào tới thì một thằng bé con giận dữ như một viên đạn lao tới đích đã nhắm thẳng vào lão đàn ông. Đứa bé sở hữu sức mạnh ghê gớm đã giằng được thắt lưng, liền rướn thẳng người vung mẫu khóa sắt quật vào giữa khuôn ngực vạm vỡ cháy nắng… của lão. Giằng không được thắt lưng da, lão ta liền dang mạnh tay cho thằng bé hai tát khiến cho thằng nhỏ lểu đểu ngã dúi xuống cát… Đứa con đã liều lĩnh lao tới cứu mẹ, để chặn bàn tay tàn tệ của người cha đang trong cơn giận dữ điên cuồng.

Khi biết người lạ chứng kiến cảnh bạo hành vừa xảy ra, người đàn bà tuồng như khi này mới cảm thấy đau đớn – vừa đớn đau vừa hết sức hổ hang, nhục nhã. Tiếng gọi: Phác, con ơi! Của người nữ giới tội nghiệp đựng lên đầy tủi nhục và đắng cay. Hình ảnh người phụ nữ ngồi ghẹ xuống trước mặt thằng bé, ôm ấp chầm lấy nó rồi lại buông ra, chắp tay vái lấy vái để, rồi lại ôm chầm lấy… thật dị kì và cũng thật xúc động. Chị ta lạy đứa con mình vì sợ nó thương mẹ, bênh mẹ mà đánh bố là phạm vào tội bất hiếu. Và hình ảnh thằng nhỏ thầm lặng đưa mấy ngón tay khẽ sờ lên khuôn mặt người mẹ như muốn lau đi các giọt nước mắt cất đầy trong những nốt rỗ chằng chịt đã để lại ấn tượng khó quên trong tâm khảm Phùng.

Cảnh tượng diễn ra và chấm dứt quá nhanh khiến cho Phùng ngơ ngác nhìn ra bờ phải lúc người đàn bà buông đứa trẻ ra, đi thật nhanh… đuổi theo lão đàn ông. Cả hai quay trở về với chiếc thuyền. Điều kì lạ là: Như trong câu chuyện cổ đầy dị dạng, chiếc thuyền lưới vó đã biến mất làm Phùng sững sờ, sững sờ ko hiểu vì sao!

Nguyễn Minh Châu đã phản chiếu một nghịch lí của cuộc sống: khung cảnh bất chợt thì toàn bích nhưng cảnh tượng đời thường thì đen tối, đáng buồn.

Lần thứ hai chứng kiến cảnh bạo hành, Phùng chạy đến bênh vực người phụ nữ. Lão đàn ông kia đánh trọng thương anh. Anh được đưa về trạm y tế của tòa án huyện và bất chợt anh đã được nghe người đàn bà xấu số đề cập về gia cảnh của mình. Phùng và Đẩu lắng nghe mang sự thông cảm và thương xót thật sự.

Sau khi thấy những biện pháp giáo dục, ăn hiếp người chồng không kết quả, Đẩu mang nhân cách là chánh án đã mời người nữ giới tới tòa án để giải quyết về vấn đề này. Tuy đây là lần thứ 2 được mời tới tòa, nhưng người phụ nữ vẫn có vẻ sợ sệt, lúng túng. Lúc đầu, chị ta chỉ dám ngồi ở góc tường, Đẩu mời lần nữa mới rén tới ngồi lép vào mép cái ghế và cố thu người lại. Khi nghe vị chánh án hỏi: Thế nào, chị đã nghĩ kĩ chưa? Thì người đàn bà ngước lên nhìn rồi lại cúi mặt xuống đáp nhỏ: Thưa …

Chánh án Đẩu tưởng người phụ nữ hiểu được ý mình nên thái độ gần gũi và chân tình hơn: Đẩu gật đầu. Anh đứng dậy. Bỗng nhiên anh rời bàn đến đứng vịn vào lưng ghế người nữ giới đang ngồi, giọng đầy bức xúc, khác hẳn với giọng 1 vị chánh án: – Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. Cả nước không 1 người chồng nào như hắn. Tôi chưa hỏi tội của hắn mà tôi chỉ muốn bảo ngay chị: Chị sống ko nổi với lão đàn ông vũ phu đó đâu! Chị nghĩ thế nào?

Đẩu khuyên chị ta nên li hôn để khỏi bị lão chồng hành hạ, bạc đãi. Có lẽ Đẩu tin rằng giải pháp mình đưa ra là đúng, nhưng sau buổi nói chuyện thì mọi lí lẽ của anh ta đều bị người phụ nữ khốn khổ đấy bác bỏ.

Vị chánh án vừa dứt lời thì người nữ giới khiếp sợ ngẩng lên nhìn rồi lại cúi mặt xuống. Chị ta chắp tay vái lia lịa và xưng con với Đẩu: Con lạy quý tòa… Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó… Đẩu kinh ngạc bật hỏi: Sao, sao? Tỏ vẻ không hiểu được sự oái oăm đấy. Còn Phùng, sau câu nói của người phụ nữ, anh cảm thấy gian phòng lồng lộng gió biển của Đẩu tình cờ bị hút hết ko khí, phát triển thành ngột ngạt quá.

Khi nghe vị chánh án đang gọi mình bằng chị bỗng chuyển sang gọi bằng bà và kể rõ chủ trương kêu gọi hòa thuận – tức thị đồng ý sự cầu xin của mình thì người đàn bà ngơ ngác hết nhìn Đẩu lại nhìn Phùng. Đến lúc hiểu ra, chị ta liền thay đổi xưng hô, tự xưng là chị, gọi Đẩu, Phùng là các chú bằng giọng điệu thân mật, chân tình: Chị cám ơn các chú!… Đây là chị kể thành thực, chị cảm ơn các chú. Lòng các chú tốt, nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn… bởi thế các chú đâu hiểu được việc của những người làm ăn lam lũ, khó nhọc…

Rồi chị ta bắt đầu tâm sự về chuyện kết hôn với chồng của mình. Thời trẻ, vì xấu gái nên chị không được người nào để mắt đến. Rồi chị có anh chàng nghề đánh cá cục tính nhưng đôn hậu lắm,… tức là lão chồng hung dữ bây giờ.

Chị ta than vãn về gia cảnh nghèo nàn, chiếc thuyền lưới vó thì quá nhỏ hẹp. Chị lại đẻ nhiều quá, nuôi ko xuể. Vì vậy mà ra nông nỗi: …bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu… Giá mà lão uống rượu… thì tôi còn đỡ khổ… Sau này con lớn lên, tôi mới xin được với lão… đưa tôi lên bờ mà đánh…

Đẩu và Phùng đã lắng nghe chị ta kể về nỗi khó nhọc của người đàn bà trên một chiếc thuyền đánh cá ko đàn ông, nhất là các khi biển động. Giọng nhắc của chị ta như giãi bầy, mong được sự chia sẻ của người nghe: Mong các chú cách mạng cảm thông cho, đám nữ giới hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông đổ chống chèo khi phong ba, ấy cùng làm ăn nuôi nấng đặng con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến lúc lớn khôn thành ra phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà sống cùng thuyền chúng tôi phải nghỉ cho con chứ không thể nào chỉ biết sống cho mình như ở trên đất liền như đàn bà khác được! Mong các chú lượng tình cho sự lạc hậu. Những chú đừng bắt tôi bỏ nó.

Vẻ mặt của người nữ giới bớt sầu não phần nào khi nhắc rằng trong cuộc sống lam lũ, cực nhọc, đôi khi vẫn mang niềm vui. Ấy là khi vợ chồng con sống hòa thuận vui vẻ, vui nhất là lúc nhìn đàn con được ăn no.

Chứng kiến cảnh người chồng vũ phu đánh đập người vợ một cách tàn tệ và nghe lời kể của nạn nhân, Phùng và Đẩu chợt trông thấy nghịch lí thứ 2 của tình huống: Người vợ thường xuyên bị chồng đánh đập, hành hạ nhưng vẫn nhịn nhục, cam chịu, quyết ko bỏ chồng mà lại còn bênh vực cho lão chồng. Người chồng vẫn có bổn phận gia đình nhưng ngày ngày cứ quen thói hành tội vợ.

Rất nhiều những điều trên ảnh hưởng tới Đẩu và Phùng, làm cho họ có sự đổi thay trong nhận thức, nghĩ suy và riêng Phùng đã sở hữu những phát hiện bất thần về quan hệ giữa hiện thực đời sống và nghệ thuật.

Trong chiếc thuyền – ngoài xa, cảnh huống truyện giống như 1 vòng tròn đồng tâm mà nghệ sĩ Phùng cũng như chánh án Đẩu đều phải quay theo để rồi được chốc lát giác ngộ về bản chất của cuộc sống và vỡ lẽ đúng ra nhiều điều mà trước kia họ chỉ nghĩ suy 1 chiều hoặc chưa bao giờ nghĩ tới. Chả hạn như đằng sau cái vô lí lại là cái hợp lí. Chuyện người đàn bà lam lũ bị chồng hành hạ tàn nhẫn thường xuyên là vô lí, nhưng người đàn bà đó ko muốn bỏ chồng lại rất có lí. Vấn đề tưởng chừng đơn giản hóa ra lại chất đựng nhiều điều phức tạp.

Phùng và Đẩu có nghề nghiệp khác nhau: 1 là nghệ sĩ, 1 là chánh án, nhưng sự đổi thay nhận thức của họ lại giống nhau và đều khởi hành từ tấm lòng hồn hậu, từ mục đích tốt đẹp. Sau lúc nghe câu chuyện của người phụ nữ hàng chài, cả 2 đều sửng sốt, ngỡ ngàng, rồi vỡ lẽ ra nhiều điều mới mẻ: cuộc đời này đầy rẫy tình huống trái ngang mà sách vở chưa kể tới; còn sở hữu nhiều góc tạ thế trong tâm hồn con người mà nghệ thuật chưa kể tới.

Là 1 chánh án, Đẩu vừa làm nghĩa vụ là người đại diện cho luật pháp vừa thực hành mệnh lệnh của trái tim. Anh muốn đánh tháo người nữ giới khỏi các trận đòn tàn nhẫn của lão chồng bằng lời khuyên li hôn. Chánh án Đẩu tin lời khuyên của anh là đúng nhưng thật ra anh đã lầm. Lúc đầu, chánh án Đẩu cứ tưởng li hôn là phương án giải quyết dứt điểm được sự hành hà, bạo hành, cứu vớt được cuộc sống người đàn bà khổ hạnh, nhưng nghe chị ta tâm tình thì anh thấy quan hệ vợ chồng của họ phức tạp hơn. Từ ấy, anh hiểu ra rằng: Muốn giải quyết những khó khăn phức tạp của cuộc sống, ko chỉ dựa vào nhã ý, vào pháp luật hoặc lí thuyết sách vở, mà phải thấu hiểu và cần giải pháp thiết thực. Hóa ra lòng tốt của anh là lòng tốt phi thực tiễn. Kiến thức học được từ sách vở mà anh học được, tất cả trở thành vô nghĩa trước những lí lẽ chân thật, mộc mạc nhưng sâu lắng của người đàn bà ít học. Sự yên ấm của gia đình và mai sau của những đứa con buộc chị ta phải câm nín và chịu đựng mọi thứ. Chị ta chỉ có 1 nguồn an ủi duy nhất là cuộc sống của mình đâu phải chỉ toàn là các trận đòn tàn tệ của chồng, mà còn các giây hạnh phúc như lúc vợ chồng hòa thuận hoặc lúc nhìn đàn con được ăn no.

Là người lính xuất ngũ về làm chánh án tòa án huyện hải phận, Đẩu vẫn giữ thuần chất lính cương trực, nhiệt tình chống lại cái ác, xấu. Thịnh nộ trước sự bạc đãi của người chồng, xót thương người vợ bị bạo hành ba ngày một trận nhẹ, năm ngày càng trận nặng nên anh đã đi ngược phương châm lấy hòa giải làm đầu khi mà giải quyết các vụ án li hôn mà bảo thẳng người đàn bà: Chị ko sống nổi lão đàn ông vũ phu đó đâu! Anh là người thực thi pháp luật bằng những lí thuyết học được từ sách vở và theo những nguyên tắc của đạo đức. Chính vì thế mà anh đã phán quyết thuần tuý trước cảnh ngộ đặc thù của người phụ nữ hàng chài. Đáp lại lòng tốt của anh, người nữ giới đã tế sống anh và nài xin tòa đừng bắt con bỏ nó. Người nữ giới dân chài thất học nhưng bằng sự từng trải sâu sắc đã khiến 1 cái gì vừa mới đổ vỡ ra trong đầu vị Bao Công phường huyện. Có thể Đẩu bắt đầu hiểu ra rằng muốn giúp con người thoát khỏi cảnh sống khổ đau, tối tăm thì nhu yếu những biện pháp thiết thực chứ không hề chỉ là thiện chí hoặc những lí thuyết đẹp đẽ mà xa rời thực tại. Câu chuyện của người nữ giới giúp chúng ta hiểu rõ sự thật về căn nguyên bi kịch bạo hành trong gia đình, đó là cảnh đói nghèo, bế tắc trong cuộc sống. Song song, chúng ta cũng hiểu sâu hơn về đức hi sinh cùng tâm lí của người phụ nữ cần lao trong mọi nghịch cảnh của thế cục.

Sau lúc chứng kiến cuộc trò chuyện giữa người phụ nữ hàng chài và chánh án Đẩu, Phùng trông thấy nhiều điều. Cái đẹp của ngoại cảnh với lúc che đậy cái xấu của đời sống. Ban sơ, Phùng ngây ngất trước vẻ đẹp thơ mộng, huyền ảo của chiếc thuyền ngoài xa. Về sau, anh nhận ra rằng vẻ đẹp bên ngoài đó đã che đậy thực tế nhức nhói bên trong. Trái lại, cái xấu cũng có thể lấn lướt cái đẹp. Phân tích sâu về cảnh người đàn bà hàng chài, Phùng lại thấy thực tiễn nhức nhối đã khiến cho những nét đẹp của con người bị lu mờ. Từ mối quan hệ phức tạp đó, Phùng suy ngẫm và rút ra nhận xét: Để hiểu được bản tính của đời sống thì người nghệ sĩ chẳng thể nhìn nhận 1 cách nông cạn, đơn giản, mà phải mang cái nhìn đa chiều, tỉnh táo và sâu sắc. Phùng đã phát hiện ra các vẻ đẹp khác ẩn chứa đằng sau những bức ảnh và anh đã bỏ nhiều công sức mới chụp được. Nó không toàn bích như tấm ảnh chiếc thuyền ngoài xa mà phản ảnh vẻ đẹp của đời thường đa đoan, đa sự. Người nghệ sĩ đừng bao giờ sử dụng cái nhìn đơn điệu, một chiều trước cuộc sống vốn phức tạp và bí mật. Nghịch lí thế cuộc vẫn luôn là điều thách thức đối với mỗi chúng ta nên đừng vì khát khao cái Đẹp nghệ thuật mà quên đi hiện thực, bởi nghệ thuật chân chính được khơi nguồn từ thế cuộc và được thông minh ra vì cuộc sống. Trước lúc là người nghệ sĩ biết rung động trước cái Đẹp thì hãy là con người biết yêu, ghét, vui, buồn trước mọi lẽ thường tình, biết hành động vì các điều tốt đẹp của cuộc sống.

Sự thực trần trụi cất chứa bên trong chiếc thuyền ngoài xa đã làm cách nhìn, cách nghĩ và cảm quan nghệ thuật của Phùng thay đổi. Bức ảnh về thế sự cuộc đời đã được nhà văn Nguyễn Minh Châu phác họa sâu sắc, được người nhiếp ảnh Phùng chứng kiến, bấm máy chụp được thật giàu tính nhân văn và ý nghĩa. Nghệ thuật hướng về cái Đẹp nhưng chẳng thể là sự lừa dối. Lãng mạn hóa thế cuộc, bôi hồng tô son hiện thực cuộc đời là điêu trá và bất nghĩa trong khi hiện thực cuộc thế còn nhiều mồ hôi và nước mắt.

Phùng sững sờ trông thấy sau cảnh đẹp như mơ của chiếc thuyền ngoài xa là bao nhiêu điều trái ngang, xót xa. Tình huống truyện được tạo nên bởi sự tương phản giữa vẻ đẹp của chiếc thuyền ngoài xa mang sự éo le trong gia đình hàng chài. Chính gánh nặng mưu sinh chồng chất trên vai đã biến người chồng thành kẻ vũ phu và làm cho người vợ vì thương con, vì sự nghiệt ngã của nghề đi biển, vì cảnh ngộ sống thiếu thốn trên thuyền và nhất là vì sự thấu hiểu người chồng hiền hậu nhưng cục tính nên đã nhẫn nhục chịu cất các hành động tàn tệ của chồng. Nhưng người mẹ ấy ko biết là mình đã làm tổn thương tâm hồn những đứa con. Thằng Phác vì thương mẹ, bênh vực mẹ mà bởi thế căm ghét chính cha đẻ của mình.

Phùng đắng cay trông thấy bi kịch và cái ác lộng hành trong gia đình thuyền chài kia như thứ thuốc rửa dị hình, khiến các thước phim tuyệt diệu mà anh dày công chụp được bỗng hiện ảnh khủng khiếp, ghê sợ. Giống như chiếc thuyền ngoài xa mang vẻ đẹp huyền ảo trong sương sớm, khi ra khỏi khoảng cách xa xôi, ảo huyền hoặc phơi mình dưới ánh mặt trời thì sẽ trở thành xấu xí, tầm thường.

Sau khi gặp và nghe người nữ giới xấu số nói về chính mình ở tòa án thị xã thì Phùng mới vỡ lẽ ra nhiều điều về con người và cuộc sống xung quanh. Anh đã hiểu tại sao người đàn bà ấy cam chịu tới nhẫn nhục, cắn răng chung sống cùng người đàn ông coi việc đánh vợ như phương thức độc nhất để giải tỏa khổ đau, uất ức. Thì ra, trên thuyền rất cần có 1 người đàn ông bởi nhiều lúc biển động, sóng to gió cả. Vả lại, ông trời sinh ra người nữ giới để đẻ con và nuôi con khôn lớn. Người vợ cần một người chồng để cùng làm lụng nuôi con. Chị ta hiểu rất đúng rằng chỉ vì đói nghèo, cùng quẫn mà chồng mình hóa ra cường bạo. Tình thương con và lòng vị tha khiến chị quên đi nỗi đau liên hồi như sóng biển, còn niềm hạnh phúc hiếm hoi như châu ngọc thì chị giữ lấy khiến nguồn an ủi: Trên thuyền cũng có lúcvợ chồng con hòa hợp vui vẻ,… Chị đề cập thật lòng: Vui nhất là khi ngồi nhìn đàn con được ăn no.

Câu chuyện đã khép lại với kết quả từ chuyến đi thực tế của nhà nhiếp ảnh Phùng. Bức ảnh được chụp từ chiếc thuyền ngoài xa đưa vào bộ lịch phong cảnh biển được các nhà đánh giá học nhận định rất cao.

Những tấm ảnh tôi mang về, đã được chọn lấy một tấm… chẳng những trong bộ lịch năm đó mà mãi mãi về sau, tấm ảnh chụp của tôi vẫn còn được treo ở phổ biến, nhất là trong những gia đình sành nghệ thuật. Khác lạ ở chỗ tuy là ảnh đen trắng nhưng khi mỗi lần ngắm nhìn kĩ, tôi vẫn thấy được cảnh tượng hiện lên màu hồng hồng của ánh sương mai khi bấy giờ tôi nhận ra từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người phụ nữ đấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, ấy là một người phụ nữ hải phận cao lớn có những đường nét thô kệch, tấm lưng áo bạc phếch với miếng vá, nửa thân dưới ướt đầm, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân giậm trên mặt đất kiên cố, hòa lẫn trong đêm đông…

Với Phùng, có thể coi đây là 1 chuyến đi ý nghĩa phát hiện và thức tỉnh: chiếc thuyền nghệ thuật thì ở ngoài xa, ẩn hiện trong sương mù, còn sự thực thế cuộc thì lại trần truồng và ở ngay trước mắt. Qua ấy, chúng ta thấy chân lí cuộc đời có khi, có nơi không hề là chân lí nghệ thuật. Điều ấy miêu tả ở chi tiết mỗi lúc Phùng nhìn ngắm và thưởng thức vẻ đẹp của bức ảnh, anh đều cảm thấy người nữ giới đấy đang bước ra khỏi tấm ảnh.

Qua câu chuyện chiếc thuyền ngoài xa của tác giả Nguyễn Minh Châu đã nêu bật lên về bài học cái nhìn đa chiều đa diện, cái nhìn khám phá trong những sự sáng tạo nghệ thuật sâu sắc của những người nghệ sĩ tài ba, chân chính. Từ tình huống truyện sở hữu ý nghĩa khám phá, phát hiện về sự thật đời sống và qua sự thay đổi nhận thức của nhiếp ảnh Phùng, của chánh án Đẩu, tác giả Nguyễn Minh Châu đã khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa nghệ thuật và hiện thực cuộc sống. Theo ông, trách nhiệm của người nghệ sĩ là phải phát hiện ra thực chất của thế cuộc. Cái Đẹp, cái Thiện đầu tiên phải là sự trung thực, Cuộc sống vốn phức tạp, chúng ta không thể đơn giản, qua loa khi nhìn nhận con người và cuộc sống mà cần có cái nhìn sáng suốt, sâu sắc cùng sự tìm tòi, phát hiện để hiểu đúng bản chất của nó.

Phân tích chi tiết về người đàn bà hàng chài thời xưa

Ví như những nhân vật trong các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu thời gian trước năm 1975 được nhìn nhận từ góc cạnh tiêu chuẩn đạo đức cách mạng, sự cống hiến đối với quốc gia thì sau năm 1975, ông nhìn nhận nhân vật của mình ở phương diện đời tư, sự thế. Nổi bật điển hình nhất trong số đó là hình ảnh nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa sáng tác vào năm1987.

Người nữ giới ấy là nhân vật chính trong quang cảnh rạng đông ở nơi đầm phá miền Trung – mặt trận cũ của người nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng thời kháng chiến chống Mĩ. Nếu ko vì Phùng muốn “thu vào tờ lịch tháng bảy năm sau cảnh thuyền đánh cá thu lưới vào khi bình minh” thì có nhẽ anh sẽ ko bắt gặp được người đàn bà này và cũng sẽ không có dịp để vỡ lẽ ra nhiều điều trong thực tế cuộc sống và nghệ thuật. Người đàn bà không được Nguyễn Minh Châu gọi bằng 1 tên riêng nào cả, ông chỉ gọi người nữ giới lam lũ ấy bằng những đại từ phiếm chỉ như “người đàn bà”, “mụ”. Ở đây là chủ ý của tác giả vì chị chỉ là 1 trong các người nữ giới làng chài ở các lãnh hải khác cũng vô danh, nhỏ bé và với 1 cuộc thế thông thường giống như họ? Cũng vì không sở hữu một tên gọi cụ thể mà hình tượng nhân vật lại sở hữu sức khái quát lớn?

nguoi-dan-ba-hang-chai

Chị là người phụ nữ “trạc ngoài bốn mươi, một thân hình quen thuộc của người phụ nữ lãnh hải, cao lớn mang các đường nét thô kệch”. Chị bị rỗ mặt, “khuôn mặt mệt mỏi sau 1 đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và hình như đang buồn ngủ”. Tấm lưng áo của chị đang mặc đã bị bạc phếch, rách rưới. Những chi tiết trình bày bề ngoài tương tự, Nguyễn Minh Châu đã làm cho bạn đọc nghĩ đến ra một người đàn bà lam lũ, vất vả, chật vật để đối mặt với cuộc sống mưu sinh trên biển đầy nguy hiểm.

Hình như căn số đã đẩy hết xấu số lên con người chị nhưng chị lại cam tâm chịu đựng mà chẳng phải có một lời trách móc. Bề ngoài chị xấu xí, vì vậy mà đàn ông trong phố không ai lấy chị rồi chị “có mang cùng một anh con trai một nhà hàng chài giữa phá hay đến nhà tôi tìm bả về đan lưới”. Người đàn ông chị lấy khi đấy là 1 người “cục tính nhưng hiền lành” và không bao giờ đánh đập vợ. Nhưng có lẽ vì sự khắc nghiệt của cuộc sống mưu sinh mà anh ta trở thành vũ phu làm chị thường xuyên phải chịu các trận đòn roi tàn nhẫn: “Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày càng trận nặng”. Hành động của người chồng làm cho vị chánh án Đẩu phải gay gắt thốt lên rằng: “Cả nước không một người chồng nào như hắn. Tôi chưa hỏi tội của hắn mà tôi chỉ muốn bảo ngay với chị: Chị không sống nổi cùng cái lão đàn ông vũ phu ấy đâu”. Chị đã phải chịu bao nhiêu cơn cuồng nộ từ người chồng, chịu bao sự khổ cực, cập kênh của cuộc sống hàng chài mà ko bao giờ kháng cự. Chị cam chịu số mệnh bởi chị là một người vị tha, bao dung và hiểu chuyện.

Người nữ giới hàng chài là người thấu hiểu chồng mình hơn người nào hết. Chị hiểu tại sao người đàn ông hiền hậu trước đây lại trở nên nóng nảy, bạo lực đến vậy. Nguyên cớ cũng là do sự đói khổ, bấp bênh của cuộc sống thường nhật. Cuộc sống đấy khổ cực lúc “vào những vụ bắc, ông trời làm biển động suốt hàng tháng, vợ chồng con toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối”. Là một rường cột chắc chắn cho gia đình, là một người chồng, người cha nên người đàn ông nào lại lãnh đạm vô cảm trước sự đói khổ của vợ con mình. Anh ta đánh vợ chẳng phải vì thù ghét vợ mà là vì anh ta bế tắc, túng quẫn trước thế cục khi chẳng thể lo cho gia đình một cuộc sống ấm no. Vì ko có cách nào khác để giải tỏa những tâm trạng bị động đó nên “bất kể lúc nào thấy khổ quá” là anh xách vợ ra đánh. Khi chánh án Đẩu và Phùng khuyên người nữ giới nên bỏ chồng thì chị đã chắp tay vái lia vái lịa: ‘Con lạy quý tòa, lạy quý tòa… Quý tòa bắt tội con cũg được hay phạt tù con cũg được nhưng đừng bắt con bỏ nó’. Rồi chị đã biện hộ cho chồng bằng các lí lẽ xác đáng và tự nhận hết lầm lỗi về mình: “Giá tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi tìm được một cái thuyền rộng hơn”; “nhưng cái lỗi chính là đám phụ nữ ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật”. Phải chịu những trận đòn roi và sự đánh đập của chồng có người phụ nữ nào ko đau đớn nhưng người đàn bà hàng chài tinh thần được nguyên nhân dẫn đến hành động bạo lực của người chồng nên chị không phải oán trách, căm giận mà còn nhiệt liệt bao dung, vị tha: “Người phụ nữ sở hữu 1 vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục, không kêu 1 tiếng, ko chống trả, cũng ko tìm cách chạy trốn”.

Không chỉ vậy, người phụ nữ hàng chài còn là 1 người mẹ tận tình thương con và giàu đức hi sinh. Chị muốn các con của chị được đón nhận tình thương của cả bố và mẹ. Chị muốn con được lớn lên trong không khí hòa thuận, vui vẻ của gia đình nên chị đã xin chồng lên bờ đánh để các con ko phải chứng kiến cảnh bạo lực gia đình trong chính người bố của mình. Các con còn nhỏ, chúng chưa thể hiểu được nguyên cớ dẫn đến sự bạo lực của bố nên có thể sẽ căm thù, oán giận bố. Chị xin lên bờ đánh là để hạn chế cho các con sự thương tổn về mặt tinh thần. Lúc thằng Phác nhìn thấy bố đang dùng cái dây lưng “quật tới tấp” vào lưng mẹ thì nó đã “như 1 viên đạn trên đường lao đến đích đã nhắm”, “nhảy xổ vào người đàn ông” giằng lấy thắt lưng rồi “lảo đảo ngã dúi xuống cát” vì 2 cái tát của bố. Người đàn bà đã “ôm chầm lấy nó rồi lại buông ra, chắp tay vái lấy vái để, rồi lại ôm chầm lấy”. Chị ko muốn Phác căm thù bố và cũng ko muốn nó trở nên bạo lực như bố. Đó là đứa con mà chị yêu nhất nhưng người phụ nữ phải gửi nó lên rừng với ông ngoại chỉ vì “sợ thằng bé có thể làm điều gì dại dột đối với bố nó”.

Người phụ nữ đấy nhất định không bỏ chồng vì “đám nữ giới hàng chài ở thuyền chúng tôi cần người đàn ông để chèo lái khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng 1 sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa”. Chị sống vì con hơn là sống cho mình. Vì con mà chị nhẫn nhục, cam chịu, vì con mà chị tiếp tục sống cùng người đàn ông vũ phu đấy chứ không tìm cách đánh tháo cho mình. Các con chủa chị chính là nguồn vui, niềm hạnh phúc: ‘Vui nhất là lúc ngồi nhìn thấy đàn con được ăn no’. Đối với 1 người mẹ, dù bản thân phải chịu đựng bao nhiêu sự khốn khổ thì họ vẫn luôn muốn các con có 1 cuộc sống ấm no.

Tuy chỉ là 1 người phụ nữ quê mùa, chân đất nhưng chị lại là người rất hiểu chuyện. Chị hiểu được lòng tốt của Phùng và Đẩu nhưng đã khước từ lòng tốt ấy: “Lòng các chú tốt nhưng các chú đâu phải là người làm ăn…cho nên các chú đâu hiểu được việc của những người làm ăn lam lũ, khó nhọc…”; “Là bởi vì những chú chẳng hề là phụ nữ, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi khó nhọc của người nữ giới trên 1 chiếc thuyền không có đàn ông”. Những lời giãi tỏ của chị đã khiến vị chánh án và người nhiếp ảnh hiểu ra nhiều điều. Cuộc sống vốn không hề đơn thuần như cách mà chúng ta vẫn nghĩ và có những lí thuyết sách vở chẳng thể nào khắc phục 1 cách thấu đáo ở trong thực tại. Phùng và Đẩu khuyên người đàn bà li hôn nhưng họ lại ko hiểu được các nỗi khổ tâm của chị, ko hiểu được nghĩa tình vợ chồng chung sống có nhau bấy lâu của chị.

Nguyễn Minh Châu đã vun đắp nhân vật người phụ nữ hàng chài với sự đối chọi về bề ngoài và tính cách, giữa sự bất hạnh chị phải gánh chịu sở hữu tấm lòng vị tha, bao dung và đức hi sinh của chị. Người phụ nữ ấy đã đem đến cho hồ hết bạn đọc chúng ta 1 cách nhìn nhận thực tiễn và bao quát hơn về con người và thế cục. Vẻ đẹp của của chị được ẩn sâu bên trong kiểu dáng rách rưới, cam chịu. Và tác giả đã “đi tìm hạt ngọc ẩn sâu trong tâm hồn con người” để phát hiện và trân trọng vẻ đẹp tâm hồn, tư cách trong các nhân vật của mình.

Nguyễn Minh Châu đã khắc họa thành người lao động người nữ giới hàng chài. Nhân vật này đã giúp độc giả cảm nhận được sự thấu hiểu, sự đồng cảm và tình thương mà tác giả dành cho nhân vật của mình. Qua ấy, Nguyễn Minh Châu cũng phần nào khẳng định mình xứng đáng với vị trí là một trong những “người mở đường đầy tài ba và tinh anh” trong công cuộc đổi mới nền văn học Việt Nam.

Phân tích nhân vật Phùng

Trong thể loại văn xuôi viết về người dân Việt Nam trước năm 1945 có gần như tác phẩm để đời. Mang cuộc sống cơ cực dưới ách cai trị của bọn chúa đất ở miền núi, chúng ta có Vợ chồng A Phủ, hay chủ nghĩa anh hùng đậm chất sử thi – “Rừng Xà nu”, hay sự khốn khổ đến tận cùng của Lão Hạc… Nhưng sau đó, năm 1986, xã hội có sự thay đổi, nước ta xóa bỏ bao cấp, chuyển sang nền kinh tế thị trường cho nên văn chương cũng mang bước chuyển mình. Đề tài sự thế và đạo đức được các nhà văn xoáy sâu vào khai thác. Và “Chiếc thuyền ngoài xa” là một tác phẩm tiêu biểu cho công đoạn đấy.

nhan-vat-phung-trong-truyen-ngan-chiec-thuyen-ngoai-xa

Được coi là “người mở các đường tinh anh và tuấn kiệt nhất”( Nguyên Hồng), Nguyễn Minh Châu- cây bút tiên phong của văn học Việt nam thời kỳ đổi mới đã với phổ biến tác phẩm ấn tượng. Một trog những tác phẩm nổi tiếng thành công của ôg đó là tác phẩm ‘Chiếc thuyền ngòai xa’. Truyện ngắn được sáng tác năm 1983 tới năm1987 in trong truyện ngắn cùng tên. Truyện ngắn điển hình cho cảm hứng đời phóng sự, tiêu biểu cho xu thế chung của văn học thời kì đổi mới. Truyện ngắn với một cảnh huống truyện cực kỳ độc đáo. Tình huống đó được biểu lộ qua nhãn quang của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng. Nhân vật này được coi là nhân vật diễn đạt triết lý cũng như quan niệm của tác giả, là công cụ để tác giả suy nghĩ của mình đưa tới cho người đọc.

Cảnh huống truyện trong tác phẩm là cảnh huống nhận thức, một tình huống bất ngờ và đầy nghịch lý. Tình huống về nhận thức sâu sắc này là được dành cho nhân vật nhiếp ảnh gia Phùng. Phùng là nghệ sĩ nhiếp ảnh, theo bắt buộc của trưởng phòng, anh đến một vùng biển từng là chiến trường xưa của anh để chụp những bức ảnh cho tấm lịch nghệ thuật thuyền và biển. Cảm xúc của nhân vật này qua những phát hiện của mình đã mô tả nội tâm cũng như nghĩ suy của anh, giúp người đọc cảm nhận vẻ đẹp nơi con người này.

Sau mấy buổi sáng “phục kích”, anh đã chụp được “cảnh đắt trời cho”. Đấy là cảnh ban mai vùng ven biển, có “mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa pha tí chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào”. Với tâm hồn nghệ sĩ của mình, anh đắm say, truyền tụng cảnh đẹp như “bức tranh mực tàu của danh họa thời cổ”. Rồi anh cảm thấy ngập tràn niềm hạnh phúc”bối rối, trái tim như bóp thắt vào”. Anh thấy được giây phút trong ngần của tâm hồn, cảm nhận được chân- thiện-mĩ của cuộc đời. Anh cảm thấy tâm hồn mình như được thanh lọc, trở nên trong trẻo và thanh khiết. Trong khoảng đó, anh nhận thức “bản thân cái đẹp là đạo đức”. Bằng con mắt và tâm hồn nghệ sĩ của mình, anh đã đưa tới cho người đọc 1 ý kiến về cái đẹp. Đó chính là cái đẹp là phải có tác dụng thanh lọc tâm hồn, hướng con người đến cái hoàn mĩ.

Không chỉ là người với tâm hồn nghệ sĩ, nhân vật Phùng còn là một người tốt bụng, lòng đồng cảm với mọi người, mang những đức tính của một người chiến sĩ. Điều này được trình bày qua phát hiện thứ 2 của anh. Từ chiếc thuyền đẹp như ngư phủ kia, bước ra một cặp vợ chồng: người nữ giới xấu xí mỏi mệt, người đàn ông thô kệch dữ dằn. Họ là các con người hiện thân cho sự lam lũ, nhọc nhằn, nghèo túng của người dân hàng chài. Sẽ ko có gì nếu như cảnh tượng nghiệt ngã này không xảy ra trước mắt anh. Người chồng đánh đạp vợ 1 cách dã man, vừa đánh vừa chửi “mày chết đi cho ông nhờ”, “chúng mày chết đi cho ông nhờ”. Người vợ thì cam chịu trận đòn, chẳng hề phản kháng lại. Đứa con thương mẹ, xông vào đánh lại bố thì bị ăn 2 cái tát. 1 cảnh bạo lực gia đình diễn ra ngay trước mắt Phùng. Dù rằng đã chứng kiến biết bao cảnh đau thương trên chiến trường nhưng anh vẫn ko khỏi sửng sốt trước sự việc này. Nó hoàn toàn trái ngược cảnh đẹp thơ mộng nơi đây. Một người đã trải qua bao năm khó khăn, vượt qua thời gian của chiến tranh, anh chẳng thể để cảnh bạo hành này tiếp tục diễn ra. Anh đã nói chuyện này với chánh án Đẩu- bạn của anh. Anh mong muốn mình có thể giúp gì được cho người phụ nữ nghèo khổ kia, muốn phê phán và lên án cái xấu. Quả là một người chính nghĩa.

Tuy nhiên, nhân vật Phùng còn là người chịu đổi thay nghĩ suy cho thích hợp cùng cảnh ngộ, không bảo thủ, chấp thuận các điều sai của mình. Ngay từ ban sơ, khi chụp được “cảnh đắt trời cho”, anh đã cho rằng cái đẹp là đạo đức, tác dụng thanh lọc tâm hồn con người. Nhưng khi chứng kiến cảnh bạo hành bên cái xe tăng hỏng cùng tâm sự của người đàn bà hàng chài, anh đã trông thấy các điều mới. Anh nhận thức được là phải nhìn nhận mọi việc toàn diện Triết lý mà Phùng nhận ra cũng chính là thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm. Nghệ thuật ko chỉ bắt nguồn từ cuộc sống mà phải gắn liền cuộc sống.

Nhân vật Phùng là nhân vật chẳng thể thiếu trong tác phẩm này của Nguyễn Minh Châu. Anh vừa là nhân vật tạo tình huống, vừa là nhân vật gắn kết các sự kiện truyện cùng nhau, miêu tả thông điệp mà tác phẩm muốn gửi gắm. Là một người có tâm hồn chiến sĩ và nghệ sĩ, Phùng đã để lại ấn tượng tốt trong lòng người đọc.

Phân tích tình cảnh xảy ra diễn biến chiếc thuyền ngoài xa

Nguyễn Minh Châu là 1 cây bút lớn của nền văn chương Việt nam hiện đại. Ông có đóng góp cho văn học của dân tộc trong thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đặc thù tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” là một trong các truyện ngắn tiêu biểu chất lượng sau năm 1975.

Trong truyện ngắn, “chiếc thuyền ngoài xa” bao trùm tác phẩm là cách Nguyễn Minh Châu vun đắp cảnh huống nhận thức có ý nghĩa khám phá và phát hiện đời sống. Truyện xoay quanh tới chuyến đi thực tế của nhân vật phùng ở lãnh hải miền Trung. Trong chuyến đi này, nhân vật Phùng có các chuyển biến nhận thức rất sâu sắc.

Tình huống truyện diễn ra 2 phát hiện đầy trái ngược của nhiếp ảnh Phùng. Phát hiện đầu tiên đó là nét đẹp của chiếc thuyền ngoài xa trong sương mờ sáng sớm. Sau mấy ngày chờ đợi, Phùng khám phá vẻ đẹp của con thuyền được bao bọc “trong bầu sương mù trắng như sữa mang pha chút xíu màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào”. Đối với Phùng đang đi tìm cái đẹp thì đây là 1 cảnh đắt trời cho. Quang cảnh đấy hiện lên như một bức tranh toàn bích. Và đối với 1 người nghệ sĩ như Phùng, đứng trước cảnh đẹp đó, Phùng cực kỳ xúc động và hạnh phúc. Anh đã liên tiếp bấm máy ghi lại chốc lát đắt giá mà hiếm khi có được lần hai như này.

Khi con thuyền vào bờ cũng chính là lúc Phùng phát hiện ra nghịch cảnh trái ngược hoàn toàn lần phát hiện thứ nhất. Bước xuốg từ chiếc thuyền kia đó là hình ảnh của người phụ nữ xấu xí và thô kệch. Trong ngoại hình cho tới tính cách đều toát lên là những con người lam lũ nghèo khổ. Hình ảnh người đàn ông lãnh hải, bạo hành, đánh đập man rợ người vợ của mình. Kèm theo ấy là những lời nguyền rủa cực kỳ thậm tệ. Đáng ngạc nhiên hơn là hình ảnh trẻ con như thằng Phác cũng lao vào đánh bố để bảo vệ mẹ. Các cảnh này xưa nay vốn trái lại luân thường đạo lý. Nhưng hôm nay đây, Phùng được chứng kiến tận mắt những hình ảnh trung thực nhất. Sau những phát hiện đầy bất ngờ, chừng như trong nhận thức của nhân vật Phùng đã có sự đổi thay.

Tình huống trong câu chuyện tiếp theo đó là cuộc đối thoại giữa nhiếp ảnh Phùng, chánh án Đẩu và người đàn bà làng chài ở tại toà án huyện. Nhân vật nhiếp ảnh gia Phùng đổi thay nhận thức và cánh án Đẩu cũng là đã rút ra được nhiều điều từ bài học cuộc sống. Trái với lời khuyên của Đẩu dành cho người nữ giới làng chài là hãy bỏ chồng vì không thể nào sống được cùng gã đàn ông vũ phu đày đọa người phụ nữ như vậy. Nhưng ko, tưởng chừng là những lời khuyên thật tình đó người đàn bà sẽ nghe theo nhưng người đàn bà đó lại xin tòa ko ly hôn với người đàn ông đó. Tưởng dường như đầy trái ngược vì không ai muốn sống cùng người đàn ông vũ phu. Nhưng sau toàn bộ các điều phi lí đấy lại trở nên các lý lẽ hết sức thuyết phục trong cảnh ngộ của người phụ nữ làng chài. Cả phùng và Đẩu đều được nghe các câu chuyện lòng dạ từ đáy lòng của người đàn bà làng chài trong cuộc sống mưu sinh trên biển phải cần đến bàn tay của người đàn ông. Cuộc trò chuyện này cũng giúp Đẩu và phùng trông thấy được nhiều chân lý của cuộc sống và giúp 2 nhân vật nhận thấy được còn đa số góc khuất đằng sau cuộc sống.

Lời kết

Thông qua cảnh huống truyện của “Chiếc thuyền ngoài xa” Nguyễn Minh Châu biểu đạt rất nhiều thông điệp với ý nghĩa sâu sắc. Sơ lược khi nhìn nhận đánh giá 1 hiện tượng mà cần cái nhìn đa diện, đa chiều.

Thông qua ấy, nhà văn cũng nêu lên thông điệp về mối quan hệ giữa nghệ thuật và thế cuộc. Người nghệ sĩ chẳng thể đứng từ xa để nhìn ngắm cuộc sống mà phải tiếp xúc giữa nghệ thuật và cuộc sống. Qua câu chuyện ta thấy được tính nhân văn, giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm.

Người viết: Nguyễn Thanh Trà

Bài viết liên quan

Categories: