TÌM HIỂU VỀ 18 ĐỜI HÙNG VƯƠNG

18 doi vua hung vuong

[GÓC LỊCH SỬ]
TÌM HIỂU VỀ 18 ĐỜI HÙNG VƯƠNG
DÙ AI ĐI NGƯỢC VỀ XUÔI NHỚ NGÀY GIỖ TỔ, MỒNG MƯỜI THÁNG BA

1: 18 đời vua Hùng bao gồm những đời nào?
Đáp: Mời các bạn xem ảnh dưới bên dưới nha.

2. Kinh Dương Vương là ai?
Đáp: Thật buồn khi nhiều người nhầm tưởng Kinh Dương Vương với Anh Dương Vương. Kinh Dương Vương là cha đẻ của Lạc Long Quân vua nước Xích Quỷ. Đây là nhà nước liên bang giữa rất nhiều bộ tộc người sống phía nam sông Dương Tử (Lạc Việt, Âu Việt, Điền Việt, Mân Việt,… gọi chung là Bách Việt).


3: Vậy Hùng Vương thứ 1 (Hùng Hiền Vương) là con cả của Lạc Long Quân đúng không?
Đáp: Hùng Hiền Vương chính là Lạc Long Quân người đã có công thống nhất bộ tộc Lạc Việt.

4: Ai là người lập ra nước Văn Lang.
Đáp: đó là Hùng Lân Vương con trai trưởng của Lạc Long Quân, ông là tù trưởng bộ tộc Văn Lang người đã có công thống nhất 15 bộ lạc lập lên nước Văn Lang.

5: Thời kì Hùng Vương kéo dài bao lâu?
Thời kì Hùng Vương (Hồng Bàng) kéo dài từ 2879 TCN – 258 TCN (2622 năm) qua 18 đời.


6: 18 đời vua trị vì 2622 năm tính ra 1 đời hơn 145 năm liệu có khả thi?
Đáp: Điều vô lý này đã gây ra nhiều tranh cãi trên các diễn đàn lịch sử khác nhau. Nhưng nếu nhìn nhận theo một góc độ khác thì nó lại trở nên có lý.
Theo nhận định trong “Hùng Vương sự tích ngọc phả cổ truyện” do Nguyễn Như Đỗ thời nhà Hậu Lê. Thì chữ “đời” vua thường hay dùng phải hiểu là chữ “thế” trong Hán tự, nghĩa là không phải là một đời người mà là “một dòng gồm nhiều đời” hay “chi”. “Hùng Vương sự tích ngọc phả cổ truyện” chép rằng thời đại Hùng Vương kéo dài 2.622 qua 47 đời vua trị vì với 18 chi, mỗi một chi qua mấy đời vua.
Nguồn: “Hùng Vương sự tích ngọc phả cổ truyện”

7: Có 18 đời vua Hùng vậy 10/3 là giỗ đời nào?
Đáp: Trong các văn bản cổ, không thấy có sự chỉ định hoặc xác nhận nào về việc mở hội đền Hùng – giỗ Tổ Hùng Vương vào ngày mồng 10 tháng 3 cả.

Tại Đền Thượng trên núi Hùng, có 2 tấm bia chép về lịch sử ngày giỗ Tổ mồng 10 tháng 3 như sau:

Tấm Hùng Miếu Điển Lệ Bi do Hội Đồng Kỷ Niệm tỉnh Phú Thọ lập năm Khải Định thứ 8 (1923) có hai phần:

Phần thứ nhất, chép lại công văn của Bộ Lễ triều Nguyễn, ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ nhất (1917) gửi các vị ở Phủ Viện Đường Đại Nhân tỉnh Phú Thọ cùng nhau tuân thủ điều sau đây: “Xã Hy Cương, phủ Lâm Thao có miếu lăng phụng thờ Hùng Vương ở núi Hùng, trải các năm, cả nước đến tế, thường lấy kỳ mùa thu, chọn vào ngày tốt làm lễ, chưa có việc định rõ ngày, mà tục lệ của dân xã đó lấy ngày mười một tháng ba, kết hợp với thờ Thổ Kỳ, làm lễ riêng… (Sự thể này dẫn tới chỗ) thường hứng bất kỳ, hội họp cũng lãng phí theo sở thích, còn lòng thành thì bị kém đi… (Vì thế) cẩn thận định lại rằng, từ nay về sau, lấy ngày mồng mười tháng ba, lĩnh tiền chi vào việc công, phụng mệnh kính tế trước một ngày so với ngày hội tế của bản hạt, khiến nhân sĩ mọi miền đến đây có nơi chiêm bái…”

Phần thứ hai của văn bia quy định việc “Đệ niên kỷ niệm hội nhật lễ nghi” (Nghi lễ ngày hội kỷ niệm hằng năm) với những câu như sau:“Nay phụng mệnh theo Bộ Lễ, chuẩn định ngày quốc tế tại miếu Tổ Hùng Vương là ngày mồng mười tháng ba. Chiều ngày mồng chín tháng ba hằng năm, các quan liệt hiến trong tỉnh, cùng các quan viên trong cả phủ huyện của tỉnh, đều phải mặc phẩm phục, tề tựu túc trực tại nhà công quán. Sáng hôm sau, tới miếu kính tế…”

Tấm Hùng Vương Từ Khảo do Tham Tri Bùi Ngọc Hoàn, Tuần Phủ tỉnh Phú Thọ, lập năm Bảo Đại thứ 15 (1940) xác nhận: “Trước đây, ngày quốc tế lấy vào mùa thu làm định kỳ. Đến năm Khải Định thứ hai (dương lịch là năm 1917), Tuần Phủ Phú Thọ (là) Lê Trung Ngọc có công văn xin Bộ Lễ ấn định ngày mồng mười tháng ba hằng năm làm ngày quốc tế, tức trước ngày giỗ Tổ Hùng Vương đời thứ 18 một ngày. Còn ngày giỗ (11 tháng 3) do dân sở tại làm lễ”.

Như vậy, đến đây có thể nhận ra: Lễ hội giỗ Tổ Hùng Vương, từ xa xưa, chọn nhật kỳ tiến hành vào mùa thu, là mùa tổ chức các lễ hội có lịch sử cổ xưa hơn các lễ hội mùa xuân. Đến năm 1917 mới có quy định chính thức của triều Nguyễn (đời vua Khải Định) lấy ngày mồng 10 tháng 3 hàng năm làm ngày “quốc giỗ” cho tất cả các đời vua.

8: Đền Hùng có từ khi nào?
Đáp: Đền Hùng là tên gọi khái quát quần thể đền chùa thờ phụng các Vua Hùng và Tôn Thất của nhà vua trên núi Nghĩa Lĩnh. Hiện nay, theo các tài liệu khoa học đã công bố, đa số đều thống nhất nền móng kiến trúc đền Hùng bắt đầu được xây dựng từ thời vua Đinh Tiên Hoàng trị vì. Đến thời Hậu Lê (thế kỷ 15) được xây dựng hoàn chỉnh theo quy mô như hiện tại. Khu vực đền Hùng ngày nay nằm trong địa phận của kinh đô Phong Châu của quốc gia Văn Lang cổ xưa. Theo cuốn Ngọc phả Hùng Vương, đương thời các Vua Hùng đã cho xây dựng điện Kính Thiên tại khu vực núi Nghĩa Lĩnh này.

Cổng đền: Được xây dựng vào năm Khải Định thứ 2 (1917), có bốn chữ Hán viết theo lối chữ chân, đại tự “Cao sơn cảnh hành” (Lên núi cao nhìn xa rộng). Còn có người dịch là “Cao sơn cảnh hạnh” (Đức lớn như núi cao), do chữ 行 trong bức hoành phi có thể đọc bằng hai âm “hành” hoặc “hạnh” với nghĩa khác nhau.

Đền Hạ: Tương truyền là nơi Âu Cơ sinh hạ bọc trăm trứng, sau nở thành 100 người con. Kiến trúc đền Hạ kiểu chữ nhị gồm hai tòa tiền bái và hậu cung, mỗi toà ba gian, cách nhau 1,5m.

Đền Trung: Tương truyền là nơi các Vua Hùng cùng các Lạc hầu, Lạc tướng du ngoạn Nghĩa Lĩnh ngắm cảnh và họp bàn việc nước.

Đền Thượng: Đền được đặt trên đỉnh núi, nơi ngày xưa theo truyền thuyết các Vua Hùng thường lên tiến hành các nghi lễ, tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp thờ trời đất, thờ thần lúa, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, nhân khang vật thịnh. Ngoài cổng đền có dòng đại tự: “Nam Việt Triệu Tổ” (tổ tiên của Việt Nam).

Đền Giếng: Tương truyền là nơi công chúa Tiên Dung và công chúa Ngọc Hoa (con gái của Vua Hùng thứ 18) thường soi gương, vấn tóc khi theo cha đi kinh lý qua vùng này. Đền được xây dựng vào thế kỷ thứ 18 theo dạng hình chữ Công.

Chùa Thiên Quang: còn gọi là Thiên Quang Thiền Tự, tọa lạc gần đền Hạ. Chùa được xây theo kiểu nội công ngoại quốc, gồm các nhà tiền đường (5 gian), thiêu hương (2 gian), tam bảo (3 gian) ở phía trước, dãy hành lang, nhà Tổ ở phía sau.

Cột đá thề: Bên phía trái đền Thượng có một cột đá gọi là cột đá thề, tương truyền do Thục Phán dựng lên khi được Vua Hùng thứ 18 truyền ngôi để thề nguyện bảo vệ non sông đất nước mà Hùng Vương trao lại và đời đời hương khói trông nom miếu vũ họ Hùng. Tuy nhiên, các nhà khoa học khi nghiên cứu cột đá thề thấy trên cột đục lỗ, cho rằng rất có thể đây chỉ là tàn tích cột đá của một kiến trúc cổ xây dựng tại khu vực này từ trước.

Lăng Hùng Vương (Hùng Vương lăng) tương truyền là mộ của Vua Hùng thứ 6. Lăng mộ nằm ở phía đông đền Thượng, mặt quay theo hướng Đông Nam. Xưa đây là một mộ đất, thời Tự Đức năm thứ 27 (năm 1870) đã cho xây mộ dựng lăng. Thời Khải Định tháng 7 (năm 1922) trùng tu lại.

Đền Tổ mẫu Âu Cơ: Là một ngôi đền mới, được bắt đầu xây dựng vào năm 2001 và khánh thành tháng 12 năm 2004. Đền được xây dựng trên núi Ốc Sơn (núi Vặn).

9: Tại sao lại có 2 Hùng Hi Vương?
Đáp: chữ Hi trong đời thứ 5 và thứ 10 có cách viết và ý nghĩa khác nhau.

10: Thời kì Hùng Vương kết thúc như thế nào?
Đáp: Vào cuối thời Hồng Bàng, nhà Tần bắt đầu mở rộng lãnh thổ xuống phía nam, xâm lược các tộc Bách Việt. Nước Văn Lang của tộc Lạc Việt đã liên minh với tộc Âu Việt của Thục Phán để cùng nhau chống Tần. Kết quả là cuộc kháng chiến chống Tần thắng lợi sau 10 năm. Theo giả thuyết phổ biến nhất, sau chiến thắng, Hùng Vương thoái vị, Thục Phán – người có công lao lớn nhất trong cuộc chiến – nối ngôi, thống nhất hai bộ tộc Lạc Việt và Âu Việt thành nước Âu Lạc. Một giả thuyết khác trong Đại Việt sử ký toàn thư là An Dương Vương đánh chiếm Văn Lang, Hùng Vương thấy nước mất bèn tự sát. Tương truyền, An Dương Vương, vì cảm kích khi được nhường ngôi, đã thề rằng sẽ kế tục và thờ tự các vua Hùng, cho thợ dựng cột đá trên núi.

Nguồn: Sưu tầm